Lời Mở Đầu cho Bản Dịch với Chú Giải:. 6 Thuật ngữ sử dụng. 10 Yêu cầu kiến thức:. 13 Nội Dung Chánh Văn Xác Lập Liễu Nghĩa.
Tổng quan về các Tôn chỉ Triết Học của riêng chúng ta. Giải Thích Tổng Quát về Giáo Thuyết Liễu Nghĩa. Trường Phái Đại Giải Thuyết .4 Các Khẳng Định Về GTLN. 27 Các Khẳng Định Nền Tảng .1 Các khẳng định về đối tượng (sở) .3 Cấu nhiễm và vô cấu .5 Các Chủ Đề Hỗ Trợ Khác .1 Các quan điểm về chủ thể của đối tượng [Năng] .6 Các Chánh Tri .7 Các Thức Phi Chánh.9 Các Xác Nhận Về Đạo Pháp .1 Đối tượng tu trì của đạo pháp .2 Đối tượng bị loại trừ bởi đạo pháp .3 Bản chất của đạo pháp .10 Các Khẳng Định Về Chứng Quả Của Đạo Pháp.
Trường Phái Kinh Lượng .1 Các Khẳng Định Nền Tảng .1 Khẳng định liên quan đến đối tượng.2 Khẳng định về Sở hữu đối tượng [Năng] .2 Các Khẳng Định Về Đạo Pháp .1 Đối tượng tu trì của đạo pháp .2 Các đối tượng từ bỏ bởi đạo pháp.3 Bản chất của đạo pháp .3 Các Khẳng Định Về Chứng Quả Của Đạo Pháp. Trường phái Duy Tâm .4 Các Khẳng Định Về GTLN .1 Các Khẳng Định Về Nền Tảng .1 Các Khẳng Định Liên Quan đến Sở .2 Các Khẳng Định Liên Quan Đến Năng [Chủ thể, Sở hữu đối tượng] .2 Các Khẳng Định Về Đạo Pháp .1 Các đối tượng tu trì của đạo pháp .2 Các đối tượng bị từ bỏ bởi đạo pháp .3 Bản chất của đạo pháp .3 Các Khẳng Định Về Chứng Quả Của Đạo Pháp. 98 6 Các Trường Phái Trung Quán. Trường Phái Trung Quán Tục Tự Tánh .4 Các Khẳng Định Về GTLN .1 GTLN của Trung Quán Tục Tự Tánh Du-già .1 Các Khẳng Định Nền Tảng.2 Các Khẳng Định về Đạo Pháp .3 Các Khẳng Định Về Chứng Quả Của Đạo Pháp .2 GTLN của Trung Quán Tục Tự Tánh Kinh Lượng .1 Các Khẳng Định Nền Tảng.2 Các Khẳng Định về Đạo Pháp .3 Các Khẳng Định Về Chứng Quả Của Đạo Pháp.
Trường Phái Trung Quán Ứng Thành .3 Các Khẳng Định Về GTLN .1 Các Khẳng Định về Nền Tảng .1 Các Khẳng Định về Đối Tượng [sở].2 Các Khẳng Định về Sở Hữu Đối Tượng [năng, chủ thể] .2 Các Khẳng Định về Đạo Pháp .1 Các Đối Tượng Tu trì của Đạo Pháp .2 Các Đối Tượng bị Loại Trừ bởi Đạo Pháp .3 Bản Chất của Đạo Pháp. 131 Các Khẳng Định về Chứng Quả Của Đạo Pháp. 131 Tài Liệu Tham Khảo. 136 9 Thuật ngữ sử dụng 1.
Từ vựng cái trong bản dịch này sẽ được dùng như một mạo từ xác định (tương tự như mạo từ the trong Anh ngữ và phần nào được viết xuống với ý nhấn mạnh). Tương tự vậy với từ con và trong một ít trường hợp với mạo từ cây (như trong cây bút chì). Thức tinh thần được xem là tương đương với ý thức. Thuật ngữ tinh thần trong ngữ cảnh tương phản với thể chất, vật lý hay xúc cảm, thụ cảm và sẽ có ẩn ý tham chiếu đến sự tương phản giữa ý thức và năm thức khác là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt và thân thức.
Cũng vậy thuật ngữ thức một mình nó có thể được hiểu là một tâm cụ thể bao gồm tâm vương và các tâm sở đi kèm với nó hay chỉ là sự đề cập về một tâm vương trong 6 thức, tùy ngữ cảnh nếu không gây ra nhầm lẫn. Trong trường hợp thuật ngữ tâm hay tâm thức nếu không có lưu ý đặc biệt gì để nói rõ hơn thì nó được hiểu là trạng thái tâm cụ thể bao gồm tâm vương và các tâm sở đi kèm. Trong chừng mực nào đó chúng tôi sẽ cố gắng sử dụng tối đa các từ ngữ thông dụng, nhưng trong rất nhiều tình huống, việc sử dụng thuật ngữ Hán-Việt là không tránh khỏi vì ý nghĩa sâu rộng hay vì sự thuận lợi với mạch văn của thuật ngữ đó. Một số từ Hán-việt ngày nay ít dùng nhưng nó không phải là phiên âm từ tiếng Hán (chẳng hạn, các từ vựng minh họa (thí dụ), phi, vô, bất (phủ định, không) hay ngay cả khả dĩ (có thể) … sẽ được dùng.
Nói chung bản dịch triết học này chủ ý theo đường lối “ngôn ngữ tải đạo”, chính là để đọc giả hiểu thâm ý miêu tả qua chữ nghĩa chớ không phải để phô diễn các áng văn tuyệt tác. Dĩ nhiên, do đây là đề tài khó nên việc lựa chọn thuật ngữ thật sự không phải là một thao tác dễ. Giọng văn, vẫn tùy thuộc vào nhân thân và trình độ của người dịch, cũng sẽ có các phương ngữ (chẳng hạn tánh thay vì tính hay sanh thay vì sinh sẽ được xem như tương đương). Một số ít các danh từ chung, vốn theo luật ngữ pháp là không viết hoa, nhưng trong nhiều trường hợp, do đặc tánh tôn nghiêm và tách bạch khỏi các lớp ngôn từ khác, chúng sẽ được viết hoa để nhấn mạnh.
Thí dụ Phật, tánh Không … 6. Chữ viết tắt: Trong nội dung dịch phẩm có một số ít thuật ngữ được lặp lại nhiều lần, để thuận tiện, chúng có thể được viết tắt. Chẳng hạn, Giáo Thuyết Liễu Nghĩa được viết hành GTLN, hay đối khi tên tác phẩm Căn Bản Trung Quán Luận của tổ Long Thụ có thể viết thành MMK (Đây là cách viết tắt quốc tế về tác phẩm này vốn có nguyên văn Phạn ngữ là mūla-madhyamaka-kārikā). Tuy vậy, chúng tối sẽ tránh tối đa việc viết tắt quá nhiều sẽ khiến tạo thêm một mức khó hiểu mà vốn tập sách triết học này đã tự nó hiện hữu.
Trong chừng mực nào đó, với định hướng hỗ trợ người tu học biết thêm về thuật ngữ đặc biệt là Tạng ngữ, trong nhiều thuật ngữ khả dĩ, chúng tôi sẽ đặt thêm các thuật ngữ tương đương hay thuật ngữ tùy chọn trong các ngoặc đơn theo thứ tự Việt ngữ, Tạng Ngữ, Phạn ngữ, Hán ngữ nếu có. Chẳng hạn: tự tri trực tiếp (tự nhận thức trực tiếp, རང་རིག་མངོན་སུམ་, svasaṃ-vedana-pratyakṣa). 11 Yêu cầu kiến thức: Để nắm bắt một cách đầy đủ về kiến thức trình bày và việc theo dõi mạch văn của bản dịch được thuận tiện. Tập sách này đòi hỏi độc giả có thêm các kiến thức Phật giáo bao gồm: 1.
Kiến thức cơ bản về Nhiếp Loại học (རིགས་ལམ།) 2. Kiến thức cơ bản về Tâm Loại học (བོ་རིགས།) 3. Kiến thức cơ bản về Biểu lý học hay logic học (རྟགས་རིགས།) Vì các lớp Phật học theo Mật tông chưa được phổ biến bằng Việt ngữ, nên quý độc giả có thể tìm đọc thêm các tài liệu Anh ngữ thay thế. Hay trong trường hợp bị giới hạn thì tốt nhất có thể tìm hiểu qua hay ôn lại các tác phẩm về A-tì-đạt-ma (điển hình là các bản dịch của Tuệ Sỹ) và các kiến thức về tâm lý học Phật giáo, cùng với một hiểu biết về toán học logic cơ bản.
12 Về Tác Giả Tác giả của tập sách giáo khoa này là một đại sư vốn được công nhận là thân tái sanh của đạo sư Jamyang Shyepa Ngawang Tsöndrü (1648-1721) (འཇམ་དབྱངས་བཞད་པ་ངག་དབང་བརོན་འགྲུས་) và do đó được mệnh danh là Jamyang Shyepa Đệ Nhị với tên đầy đủ là Jamyang Shyepa Könchog Jigme Wangpo Yeshe Tsöndrü (འཇམ་དབྱངས་བཞད་པ་དཀོན་མཆོག་ འཇིགས་མེད་དབང་པོ་ཡེ་ཤེས་བརོན་འགྲུས་). Ông sanh năm 1728 tại snang ra gser khang (Hiển Xuất Hoàng Kim Tự, སྣང་ར་གསེར་ཁང་) thuộc vùng Amdo. Ông tu tập theo dòng Gelug (དགེ་ལུགས་). Ông thọ giới sa-di năm 1733 tại học viện Trashi (Viên Cát, བཀྲ་ཤིས་དཀིལ་) cho đến năm 1742 được phong làm phương trượng và tiếp tục tu học tại miền Đông Tây Tạng từ 1744.
Giai đoạn 1752–1759, ông học tại học viện Drepung (Tích Quả, འབྲས་སྤུངས་) tại Gomang. Sau đó, ông trở thành Giáo thọ của nhiều tự viện của vùng Amdo cho đến năm 1969, ông đến Trung Hoa và thọ giới và trở thành đại đệ tử của học giả người Mông-cổ là Changkya Rölpé Dorjé (ལྕང་སྐྱ་རོལ་པའི་རོ་རེ།) 4. Trở về Tây Tạng, từ 1771 đến 1784 ông hoằng truyền Phật pháp tại miền Đông. Giai đoạn 1786–1791 ông hoạt động tại Trung thổ Tây Tạng.
Đến 1784 ông trở về Amdo tiếp tục giảng dạy và truyền bá cho đến khi viên tịch vào năm 1791.5 4 Changkya Rölpé Dorjé (ལྕང་སྐྱ་རོལ་པའི་རོ་རེ།) (1717-1786) sanh tại Vũ Uy (武威) nay thuộc Cam Túc (甘肅), lúc đó, nơi này thuộc biên giới Tây Tạng và Mông cổ. Ngài là quốc sư Phật giáo của triều Mãn Thanh và là người thân cận với vua Càn Long. Ông là người giám sát công cuộc dịch kinh Phật từ tiếng Tạng ra tiếng Mông-cổ và tiếng Mãn Châu thời bấy giờ. 5 Trong những phần sau của sách này, các nhân vật như Jamyang Shyepa, Könchog Jigme Wangpo, và Changkya Rölpé Dorjé thỉnh thoảng sẽ được nhắc đến về các ý kiến triết học của họ.
13 Các công trình Könchog Jigme Wangpo để lại có thể chia làm hai loại: 1. Các công trình viết về tiểu sử của các đạo sư và lịch sử Phật giáo. Trong đó, đa phần viết về các đạo sư và các Tự viện tại Tây Tạng, về Gelug, và một số truyện về việc lan truyền Phật giáo ra các quốc gia từ thời đức Thích-ca-mâu-ni. Các công trình về triết học bao gồm: các giảng yếu về các giáo pháp của Nguyệt Xứng bổ túc cho Căn Bản Trung Quán Luận, sách Đại Cương về Xác Lập Liễu Nghĩa, sách yếu lược về Tứ Định và Tứ Vô Sắc Thiền trong Hiện Quán Trang Nghiêm Luận của Di-lặc, luận giải về A-tì-đạt-ma-câu-xá của Thế Thân, và luận giải về Jatakamālā (Bản Sanh Truyện) của Thánh Dũng (Āryashūra).
14 Chánh Văn Xác Lập Liễu Nghĩa Giảng Luận 1. Tổng quan về các Tôn chỉ Triết Học của riêng chúng ta6 Thuật ngữ “གྲུབ་མཐའ” không phải là do tôi thêu dệt ra, mà đã được nhắc tới trong các bản kinh văn của Đức Phật. Nhập Lăng Già Kinh có nói: Giáo lý của ta có hai khía cạnh: Các khuyến dụ và các giáo thuyết liễu nghĩa (GTLN) Với Phật tử, ta thuyết lời khuyến dụ, Với Du-già giả, ta thuyết các Giáo thuyết Liễu nghĩa.7 Hơn thế nữa, có hai hạng người: những người mà tâm thức của họ không bị ảnh hưởng bởi các giáo thuyết liễu nghĩa và những người mà tâm thức của họ bị ảnh hưởng bởi GTLN. Những người mà tâm thức của họ không bị ảnh hưởng bởi GTLN chỉ kiếm tìm khoái lạc trong cuộc đời này qua cảm thụ bản năng vì họ chưa từng nghiên cứu một cách có hệ thống cũng như chưa bao giờ tiến hành khảo sát và phân tích.
Trong khi đó, những người có tâm thức chịu ảnh hưởng bởi GTLN đã nghiên cứu, học hỏi ít nhiều như là tụng đọc kinh văn và lý luận, họ cứu xét một phương cách để xác lập một quan điểm về ba yếu tố: nền tảng, đạo pháp, và thành quả vốn được được tạo thành cho tầm nhìn của sự hiểu biết riêng của 6 Chánh văn có một phần đề cập đến các tôn chỉ triết học của ngại đạo.