Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Mướp đắng (Momordica charantia L.), thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới có giá trị thực phẩm và dược liệu. Nghiên cứu thành phần dinh dưỡng từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) chỉ ra trong 100g quả tươi cung cấp 79 kJ năng lượng, chứa 4,95g carbohydrate, 2g chất xơ, 33mg vitamin C, 0,38mg sắt cùng nhiều khoáng chất và vitamin thiết yếu. Theo y học cổ truyền, mướp đắng có vị đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc; y học hiện đại cũng ghi nhận protein hoạt tính MAP30 trong hạt có khả năng hỗ trợ miễn dịch và ức chế virus.

Trong tập quán canh tác truyền thống tại Việt Nam, mướp đắng chủ yếu được gieo trồng trực tiếp ngoài đồng ruộng. Phương thức này khiến cây con dễ bị tổn thương trước các điều kiện ngoại cảnh bất thuận như mưa lớn, ngập úng, rét muộn và áp lực gây hại của sâu bệnh (sâu xanh, sâu xám, ruồi đục quả). Việc gieo ươm cây con trong bầu đất đặt tại nhà mái che trước khi đưa ra ruộng là một giải pháp kỹ thuật nhằm khắc phục các rủi ro thời tiết. Tuy nhiên, việc sử dụng đất đóng bầu đơn thuần dễ dẫn đến tình trạng đất bị nén chặt, bí khí, làm rễ kém phát triển, dẫn đến cây còi cọc và giảm năng suất. Do đó, việc nghiên cứu các cơ chất giá thể tơi xốp, giàu dinh dưỡng, giữ ẩm tốt phục vụ sản xuất cây con mướp đắng là yêu cầu cấp thiết.

Đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của thành phần giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống mướp đắng (Momordica charantia L.) trong vụ xuân hè 2022 tại Gia Lâm - Hà Nội” được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề trên.

Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể:

  • Mục đích: Tìm được công thức phối trộn giá thể phù hợp cho giai đoạn trồng cây con của một số giống mướp đắng và xác định các giống mướp đắng có năng suất cao thích hợp với điều kiện sản xuất tại Hà Nội.
  • Yêu cầu nghiên cứu:
    1. Đánh giá sinh trưởng, phát triển của mướp đắng trên một số công thức phối trộn giá thể.
    2. So sánh đánh giá khả năng cho năng suất của các giống mướp đắng khi trồng trên các công thức phối trộn giá thể khác nhau.
    3. Đánh giá tình hình nhiễm một số sâu bệnh hại chính trên các mẫu giống mướp đắng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 21 mẫu giống mướp đắng thu thập tại khu vực đồng bằng Sông Hồng (kí hiệu từ MD1 đến MD19, giống 939 và giống Mũi tên đỏ - MTĐ) cùng các thành phần giá thể phối trộn (phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, xơ dừa, trấu hun, đất ruộng, đất tribat).
  • Địa điểm nghiên cứu: Khu đồng ruộng và nhà màng thuộc Bộ môn Rau Hoa Quả và Cảnh Quan, Khoa Nông Học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Gia Lâm, Hà Nội).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2022 đến tháng 08/2022 (Vụ Xuân Hè 2022). Trong đó, Thí nghiệm 1 triển khai từ 05/03/2022 đến 25/06/2022; Thí nghiệm 2 triển khai từ 27/05/2022 đến 05/08/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết và phân loại thực vật, mướp đắng (Momordica charantia L.) có bộ nhiễm sắc thể 2n = 22, là loài cây hàng năm, hoa đơn tính cùng gốc (monoecious). Dựa trên phân loại của M.C. Reyes và cộng sự (1993), loài này gồm hai nhóm chính: nhóm hoang dại quả nhỏ (var. minima) và nhóm trồng trọt quả lớn (var. maxima). Theo Phạm Hoàng Hộ (1991), hệ thực vật Việt Nam ghi nhận 3 loài thuộc chi Momordica, trong đó Momordica charantia L. là loài được gieo trồng phổ biến nhất. Về sinh thái học, cây sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 24–27°C, ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới 5°C, nhạy cảm với ngập úng và yêu cầu độ ẩm đất 70–80% (thời kỳ ra quả rộ cần 80–90%). Về dinh dưỡng, cây yêu cầu cân đối giữa phân khoáng và phân hữu cơ, trong đó phân hữu cơ đóng vai trò cải thiện cấu trúc đất và tăng hiệu lực hấp thu khoáng (Bùi Đình Dinh, 1994; AVRDC; Robinson & Decker-Walters, 1996).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế qua hai thí nghiệm đồng ruộng và nhà màng:

Thí nghiệm 1 đánh giá ảnh hưởng của giá thể giai đoạn cây con đến sinh trưởng, năng suất của 21 mẫu giống. Thí nghiệm bố trí tuần tự, không nhắc lại, gồm 4 công thức giá thể nuôi cây con trong nhà mái che (đóng bầu 18x16 cm) và 1 công thức đối chứng (ĐC) gieo ngoài đất ruộng:

  • ĐC: Đất ruộng thông thường (đưa ra luống trồng sau 10 ngày gieo).
  • GT1: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + đất ruộng (tỉ lệ thể tích 1:1, áp dụng trên giống MTĐ).
  • GT2: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + trấu hun + đất ruộng (tỉ lệ thể tích 2:1:1).
  • GT3: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + xơ dừa + đất ruộng (tỉ lệ thể tích 2:1:1).
  • GT4: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + đất tribat (tỉ lệ thể tích 1:1, áp dụng trên giống MTĐ).

Cây con các công thức GT1 đến GT4 được nuôi trong bầu 30 ngày trong nhà màng, sau đó chuyển ra ruộng trồng cùng điều kiện luống rộng 1,5m, rãnh 1m, cao 0,3m, mật độ khoảng cách 0,5m x 0,5m. Luống được bón lót 10kg phân hữu cơ vi sinh và 3,7kg NPK 13:13:13, phủ màng nông nghiệp, làm giàn thẳng đứng (giàn chữ I) bằng cọc dóc và dây ni lông. Thụ phấn diễn ra tự do nhờ gió và côn trùng; sử dụng túi lưới trắng bao quả sau khi đậu để phòng ruồi đục quả.

Thí nghiệm 2 so sánh sinh trưởng của giống MTĐ vụ xuân hè muộn giữa trồng hoàn toàn trong nhà mái che và ngoài ruộng:

  • ĐC (ngoài ruộng): Cây con 10 ngày tuổi trồng vào hố đất bón lót phân vi sinh (đất : phân = 2:1).
  • CT1 (ngoài ruộng): Trồng vào hố có bổ sung giá thể xơ dừa (tỉ lệ 2:1:1).
  • CT2 (trong nhà mái che): Trồng trong túi bầu PE 20x40 cm chứa hỗn hợp phân vi sinh + xơ dừa + đất ruộng (2:1:1), leo bằng dây SE treo giàn thép (3 dây/bầu). Công thức này thụ phấn thủ công bằng tay do thiếu côn trùng và không bao quả nhằm đánh giá đối chứng tự nhiên.

Hệ thống chỉ tiêu theo dõi gồm: Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (nảy mầm, ra hoa đực, ra hoa cái, thu hoạch đầu, kết thúc thu); động thái tăng trưởng chiều cao thân (đo định kỳ 15, 22, 29, 36, 43 ngày sau gieo), số cành cấp 1, số lá; đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả; đặc điểm hình thái quả (chiều dài, đường kính, khối lượng, độ dày thịt quả, độ cứng); năng suất cá thể; mức độ hại của sâu xanh (Helicoverpa armigera), ruồi đục quả (Zeugodacus caudatus), bệnh phấn trắng (Erysiphe sp.) và bệnh sương mai (Pseudoperonospora cubensis).

Nguồn dữ liệu được nhập qua bảng tính điện tử Google Sheets và xử lý thống kê sinh học trên các phần mềm SPSS và IRRISTAT, tính toán các tham số thống kê sai khác có ý nghĩa (LSD ở mức xác suất 95%) và hệ số biến động (CV%).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc phát triển rau an toàn, giá trị kinh tế và dinh dưỡng của cây mướp đắng. Phần này xác định thực trạng khó khăn trong sản xuất vụ xuân hè tại miền Bắc, đặc biệt là ảnh hưởng của ngập úng và sâu bệnh ở giai đoạn cây con. Từ đó, tác giả xác định mục đích tìm kiếm công thức giá thể đóng bầu thích hợp trong nhà mái che kết hợp tuyển chọn giống mướp đắng có triển vọng tại vùng Gia Lâm - Hà Nội. Nội dung mở đầu nêu rõ 3 yêu cầu nghiên cứu làm căn cứ cho việc xây dựng các nội dung thực nghiệm.

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Phần tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước:

  • Về thực vật học và sinh thái: Mô tả chi tiết cấu tạo rễ cọc (ăn sâu 90–180cm) và hệ rễ bên (ăn nông dưới 60cm); cấu tạo thân leo, lá xẻ thùy, hoa đơn tính cùng gốc và hình thái hạt răng ngựa. Trình bày các ngưỡng nhiệt độ (tối thích 24–27°C; ngưỡng chết mô trên 40°C), phản ứng quang chu kỳ ngày ngắn và trung bình, nhu cầu độ ẩm và yêu cầu đất đai.
  • Về giá trị dinh dưỡng: Tổng hợp số liệu phân tích của USDA và tài liệu Đại học Purdue (Mỹ), khẳng định hàm lượng cao của vitamin C (33–50mg/100g), protein hạt chứa các dải điện di 28, 40, 48, 50 kDa cùng protein MAP30 có hoạt tính kháng virus.
  • Tình hình sản xuất và chọn tạo giống: Tổng kết diện tích canh tác tại châu Á (Ấn Độ, Đài Loan, Srilanka, Malaysia; diện tích mướp đắng Việt Nam năm 2007 đạt 12.000 ha theo AVRDC). Giới thiệu các nghiên cứu ghép mướp đắng lên gốc mướp ta tại Đài Loan, ghép lên bí đỏ tại Trung Quốc nhằm chống rét và úng; các nghiên cứu chọn dòng đơn tính cái DBGY-201 tại Ấn Độ; các kết quả khảo nghiệm tổ hợp lai THL 3 và THL 9 của Viện Nghiên cứu Rau quả tại Gia Lâm.

PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày danh mục vật liệu gồm 21 giống mướp đắng, các vật liệu phối trộn giá thể (phân Sông Gianh, xơ dừa, trấu hun, đất tribat, đất ruộng) và trang thiết bị thực địa (máy đo SPAD, cân điện tử, máy đo độ cứng). Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí không nhắc lại của Thí nghiệm 1 và Thí nghiệm 2. Trình bày toàn diện quy trình kỹ thuật canh tác: làm đất, lên luống đôi kích thước 23m x 1,5m x 0,3m, định mức phân bón lót và bón thúc, kỹ thuật cắm giàn dóc thẳng đứng, chế độ tưới nước 2 lần/ngày, kỹ thuật thụ phấn nhân tạo trong nhà màng và bao quả bằng túi lưới trắng. Thiết lập công thức tính toán tỷ lệ đậu quả, năng suất cá thể, công thức tính tỷ lệ sâu bệnh hại và quy chuẩn phân cấp mức độ nhiễm sâu bệnh.

PHẦN 4: THẢO LUẬN VÀ KẾT QUẢ

Phần kết quả tập trung phân tích các dữ liệu đo đạc thực nghiệm từ Thí nghiệm 1 và Thí nghiệm 2:

  • Tỷ lệ nảy mầm và thời gian sinh trưởng: Trong số 21 mẫu giống nghiên cứu ở Thí nghiệm 1, hai mẫu giống MD2 và MD4 hoàn toàn không nảy mầm. Hai giống MD1 và MD3 nảy mầm sau 6–8 ngày, đạt thời gian sinh trưởng 70–71 ngày nhưng không phân hóa mầm hoa và không ra quả. Toàn bộ 17 giống còn lại (MD5 đến MD19) cùng giống 939 và giống MTĐ đều có chu kỳ sinh trưởng 90 ngày, thời gian cho thu hoạch tập trung trong 32 ngày trên tất cả các công thức giá thể.
  • Động thái tăng trưởng chiều cao thân: Chiều cao thân cây được theo dõi qua các mốc 15, 22, 29, 36 và 43 ngày sau gieo.
    • Ở mốc 15 ngày, sự khác biệt giữa các công thức chưa rõ rệt do rễ cây con mới phục hồi sau khi đóng bầu hoặc chuyển ngôi.
    • Từ mốc 22 ngày và 29 ngày, công thức giá thể xơ dừa (GT3) thể hiện ưu thế vượt trội về tốc độ vươn ngọn so với công thức trấu hun (GT2) và đối chứng (ĐC) ở hầu hết các giống. Cụ thể ở 29 ngày sau gieo, giống MD19 trên GT3 đạt 112,2 cm trong khi trên ĐC đạt 74,2 cm; giống MTĐ trên GT3 đạt 73,4 cm, vượt xa ĐC (49,0 cm), GT2 (53,3 cm) và GT4 (36,1 cm).
    • Ở mốc 43 ngày sau gieo, phân tích phương sai ở độ tin cậy 95% cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các công thức ở các giống MD7, MD8, MD10, MD11, MD12, MD13, MD14 và MTĐ. Đối với giống MTĐ, công thức GT3 đạt chiều cao lớn nhất (170,0 cm), sai khác có ý nghĩa so với ĐC (146,3 cm), GT2 (136,7 cm), GT4 (117,0 cm) và GT1 (100,0 cm).
  • Đánh giá sâu bệnh hại: Cây con được gieo ươm trong nhà màng trên giá thể phối trộn (đặc biệt là GT3) tránh được sự tấn công của sâu xám cắn gốc và sâu xanh ăn lá non so với gieo trực tiếp ngoài ruộng. Tại Thí nghiệm 2, việc canh tác hoàn toàn trong nhà mái che ở vụ xuân hè muộn giúp ngăn chặn triệt để ruồi đục quả (Zeugodacus caudatus) gây hại mà không cần thực hiện biện pháp bao quả.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm tổng hợp

Dưới đây là bảng trích xuất số liệu về thời gian sinh trưởng và động thái phát triển chiều cao thân ở giai đoạn 43 ngày sau gieo của một số mẫu giống mướp đắng đại diện trong Thí nghiệm 1:

Giống Công thức giá thể Thời gian nảy mầm (ngày) Thời gian xuất hiện hoa cái (ngày) Tổng thời gian sinh trưởng (ngày) Chiều cao cây ở 43 ngày (cm) Mức độ sai khác thống kê (LSD 0,05)
MD1 ĐC 6 34 70 (Không ra quả) 90,4 a (LSD = 46,8)
GT3 6 34 70 (Không ra quả) 108,3 a
MD2 Tất cả CT - - Không nảy mầm - -
MD4 Tất cả CT - - Không nảy mầm - -
MD7 ĐC 6 28 90 157,2 a (LSD = 9,9)
GT2 6 30 90 124,8 c
GT3 6 28 90 140,1 b
MD11 ĐC 6 28 90 176,7 a (LSD = 40,6)
GT2 6 30 90 115,2 b
GT3 6 28 90 138,3 ab
MD12 ĐC 6 28 90 182,3 a (LSD = 26,8)
GT2 6 32 90 95,3 b
GT3 6 28 90 175,0 a
MD18 ĐC 6 28 90 170,0 a (LSD = 39,8)
GT2 6 30 90 150,0 a
GT3 6 28 90 186,9 a
MTĐ ĐC 6 28 90 146,3 ab (LSD = 29,6)
GT1 6 32 90 100,0 c
GT2 6 30 90 136,7 b
GT3 6 28 90 170,0 a
GT4 6 32 90 117,0 bc

Đề xuất và kiến nghị kỹ thuật của tác giả

  • Về công thức giá thể: Khuyến nghị ứng dụng công thức giá thể phối trộn xơ dừa (GT3: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + xơ dừa + đất ruộng theo tỉ lệ 2:1:1) cho giai đoạn cây con trong bầu đất tại nhà mái che. Cơ chất này tạo độ tơi xốp, giữ ẩm tối ưu, giúp bộ rễ phát triển mạnh, cây con sinh trưởng nhanh và rút ngắn thời gian bén rễ khi đem trồng ra ruộng.
  • Về quản lý sâu bệnh và mùa vụ: Đưa cây con vào nuôi dưỡng trong nhà mái che khoảng 30 ngày trước khi chuyển ra ruộng giúp hạn chế tối đa sự cắn phá của sâu xanh và sâu xám. Đối với vụ xuân hè muộn, canh tác hoàn toàn trong nhà mái che bằng túi bầu phối trộn giá thể xơ dừa kết hợp thụ phấn bổ sung bằng tay mang lại hiệu quả cao trong việc tránh mưa bão ngập úng và ngăn chặn ruồi đục quả mà không cần bao quả thủ công.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã bổ sung dẫn liệu thực nghiệm về phản ứng của tập đoàn 21 mẫu giống mướp đắng thu thập tại đồng bằng Sông Hồng đối với các loại giá thể hữu cơ (xơ dừa, trấu hun, tribat). Kết quả chứng minh giá trị của phụ phẩm nông nghiệp xơ dừa khi phối trộn cùng phân vi sinh trong công nghệ sản xuất cây giống mướp đắng chất lượng cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Bố trí thí nghiệm thực hiện theo phương pháp tuần tự không nhắc lại, làm hạn chế khả năng kiểm soát sai số ngẫu nhiên giữa các ô thí nghiệm trên đồng ruộng.
  • Nghiên cứu chỉ được thực hiện trong phạm vi một mùa vụ (vụ Xuân Hè năm 2022) tại một địa điểm duy nhất (vườn thực nghiệm Khoa Nông học, Gia Lâm, Hà Nội), chưa đánh giá được biến động của các công thức giá thể qua các vụ khác nhau (như vụ Thu Đông) hoặc trên các tiểu vùng sinh thái khác.
  • Hai mẫu giống MD2 và MD4 bị hỏng nguồn vật liệu do không nảy mầm; hai mẫu giống MD1 và MD3 không ra quả, dẫn đến thiếu hụt dữ liệu năng suất ở các mẫu này.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Triển khai thí nghiệm lặp lại nhiều lần (khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh - RCBD) qua nhiều vụ liên tiếp nhằm đánh giá độ ổn định của các công thức giá thể.
  • Đánh giá chuyên sâu về phẩm chất sinh hóa của quả mướp đắng (hàm lượng vitamin C, độ cứng thịt quả, độ đắng, chỉ số đường) khi trồng trên giá thể xơ dừa.
  • Hoàn thiện quy trình dinh dưỡng tưới nhỏ giọt và kỹ thuật thụ phấn nhân tạo khi sản xuất mướp đắng thương phẩm hoàn toàn trong nhà mái che quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Rau hoa quả và Cảnh quan.

Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao gồm:

  • Quy trình phối trộn giá thể xơ dừa kết hợp phân vi sinh Sông Gianh và đất ruộng theo tỉ lệ 2:1:1 phục vụ ươm cây con họ Bầu bí trong nhà màng.
  • Bảng dẫn liệu về đặc điểm nông sinh học, thời gian sinh trưởng và động thái phát triển chiều cao của các mẫu giống mướp đắng địa phương tại vùng đồng bằng Sông Hồng.
  • Phương pháp luận kết hợp giữa bảo vệ cây con trong nhà mái che và đưa ra ruộng sản xuất thương phẩm nhằm giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật.

Câu hỏi thường gặp

1. Những mẫu giống mướp đắng nào trong thí nghiệm gặp sự cố không cho thu hoạch quả?
Trong Thí nghiệm 1, mẫu giống MD2 và MD4 hoàn toàn không nảy mầm từ giai đoạn gieo hạt. Hai mẫu giống MD1 và MD3 có nảy mầm (sau 6–8 ngày) và phát triển thân lá đạt chu kỳ 70–71 ngày nhưng không phân hóa mầm hoa và không ra quả.

2. Công thức giá thể GT3 có thành phần và tỉ lệ phối trộn như thế nào?
Công thức giá thể 3 (GT3) được phối trộn theo tỉ lệ thể tích gồm 2 phần Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh : 1 phần xơ dừa : 1 phần đất ruộng (2:1:1).

3. Sự khác biệt về chiều cao cây của giống Mũi tên đỏ (MTĐ) ở mốc 43 ngày sau gieo giữa các công thức giá thể ra sao?
Ở mốc 43 ngày sau gieo, giống MTĐ trên công thức GT3 đạt chiều cao lớn nhất (170,0 cm, nhóm a), sai khác có ý nghĩa thống kê so với ĐC (146,3 cm, nhóm ab), GT2 (136,7 cm, nhóm b), GT4 (117,0 cm, nhóm bc) và GT1 (100,0 cm, nhóm c) với chỉ số LSD ở mức 29,6 cm và hệ số biến động CV là 11,7%.

4. Kỹ thuật thụ phấn và quản lý ruồi đục quả khác nhau như thế nào giữa Thí nghiệm 1 và Thí nghiệm 2?
Ở Thí nghiệm 1 (trồng ngoài ruộng), hoa thụ phấn tự do nhờ gió và côn trùng; tác giả phải sử dụng túi lưới trắng bao quả sau khi thụ phấn để ngăn ruồi đục quả (Zeugodacus caudatus). Ở Thí nghiệm 2 (công thức trồng hoàn toàn trong nhà mái che), do thiếu côn trùng và gió nên phải thụ phấn thủ công bằng tay (lấy phấn hoa đực chấm vào nhụy hoa cái); đổi lại không cần bao quả vì nhà màng đã ngăn chặn hoàn toàn ruồi đục quả.

5. Việc ươm cây con trong nhà mái che giúp hạn chế những đối tượng dịch hại cụ thể nào?
Việc nuôi cây con trong bầu đất đặt trong nhà màng 30 ngày giúp hạn chế tối đa sự cắn phá của sâu xám cắn ngang gốc và sâu xanh (Helicoverpa armigera) ăn lá non, đảm bảo mật độ cây đồng đều trước khi đem trồng ra đồng ruộng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Tiến Thành đã thực hiện đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của các thành phần giá thể phối trộn đến sinh trưởng và phát triển của 21 mẫu giống mướp đắng tại Gia Lâm, Hà Nội trong vụ Xuân Hè 2022. Kết quả nghiên cứu xác định công thức phối trộn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, xơ dừa và đất ruộng theo tỉ lệ 2:1:1 (GT3) là cơ chất tối ưu cho giai đoạn cây con trong nhà màng, thúc đẩy tăng trưởng chiều cao thân và nâng cao sức chống chịu sâu bệnh hại. Đồng thời, mô hình canh tác mướp đắng hoàn toàn trong nhà mái che vụ xuân hè muộn chứng minh được khả năng ngăn ngừa ruồi đục quả và hạn chế rủi ro ngập úng so với canh tác truyền thống ngoài đồng ruộng.