CHƯƠNG 1. TONG QUAN VỀ DỊCH BỆNH DAU MÙA 1. Dinh nghĩa về bệnh đậu mùa Trong lịch sử ngành y học, trước khi người ta biết đến sự phát triển của lý thuyết vi trùng, kinh hiên vi công suất cao và những phân tích ADN, các bác sĩ thời kỳ đầu chi có thê khám bệnh và nghiên cứu bệnh thông qua những triệu chứng. Trong quá trình khám bệnh, các bác sĩ đã lắng nghe và ghi nhận lại các phản ứng và triệu chứng của bệnh nhân, sau đó quan sát và so sánh mối tương quan giữa triệu chứng đó với những căn bệnh đã biết.
Vì lý đo đó nên trước đây trong lịch sử đã có những chân đoán sai lầm khi giải thích về bệnh đậu mùa. Vì các bác sĩ chỉ nghiên cứu dựa trên những triệu chứng của người bệnh nên cứ bat kỳ bệnh nào có thê làm bệnh nhân phát sốt kèm theo mụn mủ hoặc phát ban trên da thi nó được cho là cùng họ với bệnh đậu mùa. Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng bệnh thủy đậu và bệnh giang mai cũng có liên quan đến bệnh đậu mùa. Tuy nhiên giả định này hoản toàn không chính xác vì bệnh thủy đậu do Virus herpes gây ra, còn bệnh giang mai thi là do vi khuẩn Spirochaeta gây ra.
Theo định nghĩa của Tô Chức Y Tế Thế Giới (WHO), bệnh đậu mùa là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính do Virus Variola, một thành viên của họ Orthopoxvirus! gây ra. Đây lả một trong những căn bệnh tàn khốc nhất ma nhân loại biết đến. Nó được cho rằng đã ton tại ít nhất 3000 năm và gây ra hàng triệu ca tử vong trước khi nó bị loại trừ. Đây là căn bệnh được xác định là có tính lây lan từ người sang người.
Ngày nay, hầu hết những người bị mắc bệnh đậu mùa đều khỏi bệnh, nhưng cứ 10 người mắc bệnh thì có khoảng 3 người tử vong (CDC, 2016). Nhờ thành công của việc tiêm chủng, năm 1980 Hội đồng Y tế Thể giới tuyên bố bệnh đậu mùa đã được loại trừ. Bệnh đậu mùa được gây ra bởi 2 biến thé virus. Đầu tiên có thẻ ké đến là Variola minor, đây tương đối được xem là bệnh đậu mủa nhẹ (alastrim), theo Cục Y tế dự phòng ' Chi Orthopoxvirus bao gồm 13 loại và nhiều chúng phân lập đã được giải trình tự day đủ.
Các loài chia thành hai nhánh; orthopoxvirus A-Au/Chiu Phi va orthopoxvirus Bắc Mỹ. các thành viên của loãi virus Variela va virus Ectromelia chỉ lây nhiễm cho người và chuột. Đặc biết Virus Variola còn là tắc nhân gây bệnh đậu mùa, được cho là nguyên nhân gây ra cái chét của ít nhất 300 triệu người chỉ trong thé ky. 11 Việt Nam cho sé liệu nghiên cứu ty lệ tử vong của nó chỉ 1%.
Biến thé còn lại nguy hiểm hơn, nó được biết đến với cái tên Variola Major, nó được xem là bệnh đậu mùa nặng (smallpox) với ty lệ tử vong la từ 20% - 40% (Cục Y tế dự phòng, 2016). Những bệnh nhân mắc phải biến thé Variola Major sau khi được chữa trị kịp thời thì trên cơ thê van dé lại những tàn dư của nó. Đó là những vết sẹo rỗ sâu và biến dạng trên khuôn mặt, nhưng di chứng nghiêm trọng nhất đó là gây mù lòa. Vào thế ky XVII, gan hai phan ba dan số nghèo đã bị bệnh đậu mùa làm cho không thẻ nhìn thay bat cứ thứ gì (Kotar & Gessler, 2013, p.
Virus đậu mùa có dang hình khói chữ nhật với các cạnh được vê tròn, có kích thước khoảng 280 - 320 nm x 200 - 250 nm và là virus có kích thước lớn nhất. Lõi của virut là một nucleotit với vật liệu di truyền là ADN. Đặc biệt loại virus nảy có sức đề kháng cao. Ở vảy mụn đậu mùa khô và ở nhiệt độ phòng, virus sống được nhiều tháng và rất nguy hiểm.
Tuy nhiên, virus dé bị bắt hoạt bởi các chất diệt khuan, bởi nhiệt độ trên 550°C va tia tử ngoại. Virus đậu mùa có thé lưu giữ lâu dài trong điều kiện đông khô hoặc bảo quan trong glycerin. Bệnh đậu mùa còn được gọi với cái tên Latin là “Variola”. Ban đầu, giám mục Marius của Avenches lan dau tiên sử dụng từ “Variola” là vào thé kỷ thứ VI nhằm để mô tả một trận dịch khi đó đang hoành thành ở Y và Pháp.
Năm thế kỷ sau, Constantinus Africanus? đã giới hạn rõ từ này có nghĩa là bệnh đậu mùa (smallpox). Trong tác phẩm “Smallpox a history” của Kotar và Gessler đã chi ra rằng từ tiếng anh “smallpox” trên thực tế là được phỏng theo cách sử dụng của người Pháp. Vào khoảng cudi thế kỷ XV, bệnh giang mai được coi la căn bệnh giết người nguy hiểm và được người Pháp gọi là la Grosse Vérole, còn bệnh đậu mùa được người Pháp gọi là la Petite Vérole. Khi dịch sang tiếng anh bệnh đậu mùa được dich là “smallpox” , trong khi đó bệnh giang mai lại được dịch là “great pox”.
Từ “small” trong “smallpox” ding dé phân biệt kích thước những vết sẹo do bệnh đậu mùa đề lại trên cơ thé so với bệnh giang mai, đồng thời “small” cũng dùng dé ? Constantinus Africanus La một hoe gid y học thời trung cổ, người đã khởi xướng việc dich các tác phẩm v học từ tiếng A Rap sang tiếng Latin. 12 biéu thi rang bệnh đậu mùa thường được coi là bệnh của trẻ em. Trái lại từ “great” trong *ereatpox”sẽ ám chỉ tính chất trưởng thành của bệnh giang mai vì đây là một căn bệnh lây qua đường tình dục. — Các giai đoạn và triệu chứng của bệnh đậu mùa Theo CDC’, khi một người mắc bệnh đậu mùa sẽ trải qua nhiều giai đoạn khi bệnh tiền triên, qua đó mỗi giai đoạn đều có những dau hiệu va triệu chứng riêng.
Thời gian ủ bệnh trung bình kéo dài từ 10 đến 14 ngày. Thời gian ủ bệnh là khoảng thời gian mà virus ton tại trong cơ thê một người trước khi họ có biêu hiện bị 6m. Do đó, thường trong thời gian ủ bệnh, bệnh nhân sẽ trông như không có triệu chứng gi. Sau thời gian ủ bệnh, cơ thẻ bệnh nhân bắt đầu có những dau hiệu mệt mỏi.
Các triệu chứng đầu tiên bắt đầu xuất hiện như sốt cao, đau dau, nhức mỏi cơ thẻ, đôi khi còn nôn mira. Giai đoạn này thường kéo dai từ 2 đến 4 ngày, vào thời điểm này bệnh nhân suy giảm sức khỏe một cách nhanh chóng va khó có thê tiếp tục các hoạt động sinh hoạt bình thường. Ở trẻ em thường xuất hiện các cơn co giật khiến trẻ bị tử vong trước khi phát ban. Sau đó là giai đoạn phát ban kéo đải khoảng 4 ngảy.
Phát ban bắt đầu bằng những đốm nhỏ màu đỏ trên lưỡi và trong miệng. Những đốm này biến thành vết loét, sau đó vỡ ra và lây lan một lượng lớn virus vào miệng va cô họng bệnh nhân gây ra tinh trạng khan giọng, khó nuốt kèm theo tiết nhiều nước bọt (ở trẻ sơ sinh thay vì tiết nước bọt thì chúng dé bị tiêu chảy). Người bị nhiễm bệnh vẫn tiếp tục trong tinh trạng sốt. Đây là giai đoạn dé lây lan nhất khi tiếp xúc với người bệnh.
Khi vết loét trong miệng bắt đầu vỡ ra, phát ban sẽ xuất hiện trên da, bắt dau từ mặt khiến cho mí mắt bệnh nhân sưng tây và hai mắt khép lại. Sau đó tiếp tục lan sang cánh tay, cánh chân và bản tay, bàn chân của bệnh nhân. Thông thường, nó sẽ lây lan đến tat cả các bộ phận trên cơ thê trong vòng 24 giờ. Khi phát ban này xuất hiện, cơn sốt bắt đầu giảm và người bệnh có thé bat đầu cảm thay dé chịu hơn.
3 Trung tâm kiểm soát và phông ngừa địch bệnh Hoa Kỷ (Centers for Disease Control and Prevention). 13 Đền ngày thứ tư, vết loét trên da chứa đầy chat dich đặc, đục và thường có vết lõm ở giữa. Khi vết loét trên da chứa day chat long, cơn sốt có thé sẽ tăng trở lại và duy trì ở mức cao cho đến khi hình thành vảy trên vết sưng. Giai đoạn tiếp theo là cơ thê bắt đầu phát ban mủ và đóng vảy, giai đoạn này cũng kéo dài khoảng 10 ngày.
Các vết loét bắt đầu trở thành mụn mủ, nó thường nỗi rõ và có dang hình tron, cứng khi chạm vào, trông như có hạt đậu dưới lớp da. Sau khoảng 5 ngày hình thành, mụn mủ cũng bắt dau đóng vảy. Đến cuối tuần thứ hai sau khi bị phát ban, hau hết các vết loét trên cơ thé bệnh nhân đều đã đóng vay. Ba tuân sau khi phat ban xuất hiện, x 4 £ ` ` 4.
£ H « hau hệt các vay sẽ bong ra va dé lại dau vet trên da. Điều đặc biệt là một khi tat cả các vay đã bong ra, người bệnh sé không còn khả năng lây nhiễm nữa. Hay nói cách khác khi bệnh nhân đã khỏi bệnh thì phần lớn sẽ không có khả năng mắc bệnh hoặc tỷ lệ tử vong rất thấp vì họ đã có sẵn hệ miễn địch. Do đó Virus Variola chỉ có thể tồn tại và lây lan liên tục ở một cộng đồng dân cư lớn chưa bị mắc bệnh bao giờ.
Một khi tất cả người dân của một khu vực đã nhiễm bệnh và khỏi hăn thì sự lây lan của nó sẽ cham dứt. Điều nay giải thích vì sao trong quá trình mở rộng vả chỉnh phục châu Mỹ, thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là những người đưa mầm bệnh đến người Mỹ bản địa và gây ra cái chết hàng loạt nhưng bản thân họ lại không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.3 Lịch sử lây lan cia bệnh đậu mùa trên thế giới Bệnh đậu mùa chỉ có thê lây lan bởi con người. Các nhà khoa học không có bằng chứng nào cho thấy bệnh đậu mùa có thê lây lan qua côn trùng hoặc động vật. Bệnh đậu mùa trở nên dé lây lan khi trên cơ thé người bệnh có triệu chứng phat ban, các vết loét xuất hiện ở miệng và cô họng.
Họ thường lây lan virus sang người khác khi ho hoặc hat hoi, những giọt nước từ mũi hoặc miệng của bệnh nhân sẽ ngay lập tức lam lây bệnh sang người khác. Bệnh đậu mùa cũng có kha năng lây nhiễm cho đến khi các lớp vảy bong ra hết hoàn ` a: - ~. Ngoài ra virus cũng có thê lây lan qua các đô vật va lam cho các đô vật nay bị nhiem 14 trùng như khăn trải giường hoặc quần áo. Do đó những người chăm sóc bệnh nhân bị bệnh đậu mùa khi giặt giũ khăn trải giường hoặc quan áo của bệnh nhân thì thường họ sẽ phải đeo găng tay can thận dé không bị nhiễm bệnh sang.
Có giả thuyết đặt ra rằng bệnh đậu mùa thật sự đã ton tai duoc 3.