Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của xã hội. Theo số liệu thống kê của Hội Chăn nuôi Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2021, tổng đàn gia cầm cả nước đạt khoảng 523,6 triệu con, trong đó đàn gà chiếm trên 420 triệu con (trên 80% tổng đàn). Đến cuối năm 2022, đàn gà tiếp tục tăng lên 453,3 triệu con trên tổng số 557,3 triệu con gia cầm (chiếm 81,3%). Sự gia tăng quy mô đàn gà kéo theo lượng chất thải phát sinh hằng ngày rất lớn. Phân gà tươi có đặc tính độ ẩm cao (thường trên 70% đến 80%), dễ phát sinh mùi hôi do quá trình phân hủy axit uric thành amoniac, đồng thời chứa nhiều nấm bệnh và tuyến trùng gây hại. Nếu không được xử lý kịp thời và đúng kỹ thuật, nguồn chất thải này sẽ tồn đọng gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường xung quanh các khu chăn nuôi.

Mặc dù phân gà chứa hàm lượng chất hữu cơ cao và giàu các nguyên tố dinh dưỡng khoáng đa lượng (N, P₂O₅, K₂O) cũng như vi lượng (Bo, Mo, Mg, Mn, Fe, Zn) vượt trội so với phân của nhiều loài gia súc khác, các phương pháp ủ truyền thống (ủ nóng kéo dài 30–40 ngày, ủ nguội kéo dài 5–6 tháng hoặc ủ hỗn hợp) đòi hỏi nhiều thời gian, diện tích mặt bằng lớn và khó kiểm soát mùi triệt để. Nhằm giải quyết tình trạng tồn đọng chất thải chăn nuôi quy mô lớn, công nghệ tháp ủ đứng Compo tower đã được đưa vào ứng dụng. Đây là hệ thống ủ sinh học hiếu khí khép kín bằng thùng thép không gỉ, vận hành liên tục, tiết kiệm diện tích và có khả năng kiểm soát nhiệt độ lên men trên 60°C để tiêu diệt mầm bệnh và hạn chế phát sinh khí amoniac.

Khóa luận "Ảnh hưởng của ẩm độ phân gà đến chất lượng và sản lượng phân ủ qua máy Compo tower" được tác giả Lê Hữu Bằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Trọng Hiếu tại Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 5/2024).

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xác định được ẩm độ và lượng nguyên liệu đầu vào phù hợp cho hệ thống tháp ủ Compo tower.
  • Đánh giá mức độ gia tăng chất lượng và sản lượng của phân gà sau ủ, cung cấp căn cứ khoa học nhằm ứng dụng trực tiếp vào quy trình sản xuất phân bón hữu cơ quy mô công nghiệp.

Yêu cầu và giới hạn nghiên cứu:

  1. Quá trình ủ bắt buộc thực hiện trên hệ thống máy ủ tháp đứng Compo tower theo chu kỳ ủ mẻ 14 ngày.
  2. Thực hiện bố trí thí nghiệm, theo dõi và thu thập chính xác các chỉ tiêu về độ ẩm, hàm lượng dinh dưỡng khoáng và khối lượng trước và sau ủ.
  3. Nguyên liệu ủ sử dụng hoàn toàn từ nguồn phân gà tươi, không phối trộn thêm bất kỳ phụ phẩm hữu cơ nào khác; việc điều chỉnh ẩm độ ban đầu được thực hiện bằng cách phối trộn phân gà tươi với phân gà sấy khô (ẩm độ 20–30%).
  4. Phạm vi không gian và thời gian: Thí nghiệm tiến hành từ tháng 12/2023 đến tháng 3/2024 tại Công ty TNHH TM CN công nghệ cao Hoàn Hảo Vina, Thửa số 18, ấp 1, xã Thạnh An, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (khu vực mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời điểm thực hiện thuộc mùa khô với nhiệt độ trung bình tháng 27,2–27,7°C).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên lý thuyết phân giải sinh học hiếu khí chất thải hữu cơ (Compost). Quá trình phân giải hiếu khí nhờ tập đoàn vi sinh vật bản địa chuyển hóa các hợp chất hữu cơ phức tạp thành mùn ổn định, sinh nhiệt nội sinh giúp nâng nhiệt độ khối ủ lên 55–70°C, từ đó tiêu diệt mầm bệnh, trứng côn trùng và hạt cỏ dại theo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường (như tiêu chuẩn EPA Hoa Kỳ). Tác giả tổng hợp các yếu tố kỹ thuật chi phối quá trình ủ bao gồm tỷ lệ C/N (tối ưu 25–30/1 đối với compost nói chung, trong khi phân gà có tỷ lệ C/N hẹp từ 5/1–10/1), độ ẩm nguyên liệu (tối ưu 50–60%), độ thoáng khí và nồng độ oxy, kích thước hạt chất độn và chế độ đảo trộn.

Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD) với 4 nghiệm thức (NT) và 3 lần lặp lại (sử dụng 4 tháp ủ Compo tower riêng biệt, mỗi nghiệm thức tương ứng với một tháp ủ):

  • NT1 (Đối chứng - ĐC): Ẩm độ phân vào 70% (tỷ lệ phối trộn: 3,5 tấn phân tươi + 0,5 tấn phân sấy khô/ngày).
  • NT2: Ẩm độ phân vào 60% (tỷ lệ phối trộn: 3,0 tấn phân tươi + 1,0 tấn phân sấy khô/ngày).
  • NT3: Ẩm độ phân vào 50% (tỷ lệ phối trộn: 2,5 tấn phân tươi + 1,5 tấn phân sấy khô/ngày).
  • NT4: Ẩm độ phân vào 40% (tỷ lệ phối trộn: 2,0 tấn phân tươi + 2,0 tấn phân sấy khô/ngày).

Quy mô nạp liệu cho mỗi tháp là 4 tấn/ngày trong 7 ngày đầu liên tục (tổng lượng nguyên liệu nạp vào mỗi tháp là 28 tấn/mẻ). Chu kỳ ủ kéo dài 14 ngày; thời gian mở cửa xả thu sản phẩm diễn ra từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14 (30 phút/lần xả/ngày). Chế độ vận hành đảo trộn của cánh khuấy là 10 phút đảo trộn xen kẽ 10 phút nghỉ liên tục trong 24 giờ. Hệ thống khí thải được xử lý qua 2 bậc lọc khử mùi (bậc 1 bằng nước, bậc 2 bằng đá bọt).

Chỉ tiêu và phương pháp phân tích

Mẫu phân được lấy tại 5 vị trí đại diện của khối phân, mỗi vị trí lấy 1 kg rồi trộn đều thành mẫu trung bình:

  • Nhiệt độ (°C): Đo trực tiếp tại 3 vị trí khoang (khoang 1: tiếp nhận trên cùng; khoang 2: khoang ủ chính giữa; khoang 3: khoang chứa sản phẩm đáy) vào 3 khung giờ mỗi ngày: 7h00, 13h00 và 17h00.
  • Độ pH: Xác định theo TCVN 13263-9:2020 bằng máy đo để bàn Hanna HI2210-02 (tỷ lệ pha 10 g mẫu trong 50 ml nước cất, lắc 1 giờ).
  • Hàm lượng chất hữu cơ (CHC %): Phân tích theo TCVN 9294:2012.
  • Nitơ tổng số (Nts %): Phân tích theo TCVN 10682:2015.
  • Độ ẩm (%): Sấy mẫu 500 g ở nhiệt độ 150°C đến khối lượng không đổi (TCVN 9297:2012).
  • Sản lượng và hiệu suất phân ra: Cân định lượng trực tiếp hàng ngày; hiệu suất (%) = (Khối lượng phân ra / Khối lượng phân vào) x 100.
  • Dinh dưỡng khoáng và kim loại nặng: Mẫu được gửi phân tích tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (Quatest 3) gồm Photpho tổng số P₂O₅ hữu hiệu (TCVN 8559:2010), Kali tổng số K₂O hữu hiệu (TCVN 8560:2018), Chì Pb (TCVN 9290:2018), Thủy ngân Hg (TCVN 10676:2015), Cadimi Cd (TCVN 9291:2018).

Số liệu được thu thập bằng Microsoft Excel 2016 và xử lý thống kê ANOVA, kiểm định so sánh phân hạng trung bình Duncan ở mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}05$ và $\alpha = 0{,}01$ bằng phần mềm DSAASTAT.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về phân chuồng và phân gà, bao gồm thành phần lý hóa, vai trò cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Tác giả trích dẫn các tài liệu thống kê về hiện trạng sử dụng phân gà tại nông hộ vùng Đồng bằng sông Hồng (Bùi Hữu Đoàn, 2011), chỉ ra rằng có tới 93,33% hộ dùng phân gà tươi chưa qua xử lý cho cá ăn và 16,67% hộ bón trực tiếp cho hoa màu, gây nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Phần tiếp theo trình bày nguyên lý ủ compost truyền thống và công nghiệp, cấu tạo cùng cơ chế hoạt động của tháp ủ Compo tower. Các nghiên cứu liên quan được tổng thuật gồm: nghiên cứu tối ưu lưu lượng khí và tốc độ trục khuấy máy ủ UP-20 (Đào Vĩnh Hưng và ctv, 2022); ủ vỏ lụa hạt điều bằng Trichoderma (Phan Thị Thanh Thủy và cs, 2017); ép viên phân gà vi sinh (Đinh Hồng Duyên và cs, 2021); xử lý phân gà bằng trùn quế (Trần Tú Linh, 2014); và các nghiên cứu của Mingzi Shi (2018), Zekeria Yusuf (2020), Rodriguez (2012).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

Chương này mô tả chi tiết địa điểm, điều kiện khí hậu huyện Thạnh Hóa (Long An), cấu tạo tháp ủ Compo tower gồm bồn trụ đứng có 12 cánh quạt phân bổ đều trên 3 khoang chức năng. Tác giả cung cấp bảng phân tích thành phần nguyên liệu phân gà tươi ban đầu (ẩm độ 80,7%, pH 8,30, CHC 70,2%, Nts 5,22%, P₂O₅ hữu hiệu 2,52%, K₂O hữu hiệu 2,59%, C/N 6,1, Ca 5,08%, Mg 0,67%). Đồng thời, chương 2 chi tiết hóa tỷ lệ phối trộn phân tươi - phân sấy để thiết lập 4 mức ẩm độ đầu vào (70%, 60%, 50%, 40%), quy trình vận hành 4 bước của tháp ủ và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (TCVN) được áp dụng để xác định các chỉ tiêu theo dõi.

Chỉ tiêu nguyên liệu phân gà tươi Phương pháp phân tích Kết quả phân tích
Ẩm độ (%) TCVN 9297:2012 80,70
pH (H₂O) TCVN 5979:2007 8,30
Chất hữu cơ - CHC (%) TCVN 9294:2012 70,20
Nitơ tổng số - Nts (%) TCVN 8557:2010 5,22
P₂O₅ hữu hiệu (%) TCVN 8559:2010 2,52
K₂O hữu hiệu (%) TCVN 8560:2018 2,59
Tỷ lệ C/N TCVN 9294:2012 6,10
Canxi - Ca (%) TCVN 12598:2018 5,08
Magie - Mg (%) TCVN 9285:2018 0,67

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được:

  1. Diễn biến nhiệt độ: Nhiệt độ tại cả 3 khoang đều duy trì trên 55°C trong phần lớn thời gian ủ. Khoang 2 là tâm điểm lên men hiếu khí có nhiệt độ cao nhất (53–76°C), trong đó khung 13h00 luôn ghi nhận mức nhiệt cao nhất do cộng hưởng nhiệt môi trường. Khoang 1 dao động từ 51–72°C, trong khi khoang 3 (chứa thành phẩm chuẩn bị xả) có nhiệt độ thấp nhất (49–67°C). Nhiệt độ tăng mạnh từ ngày 6 đến ngày 10 rồi giảm dần về ngày 14 khi quá trình lên men hoàn tất.
  2. Chỉ tiêu phân trước ủ: Ẩm độ phân vào ảnh hưởng rõ rệt đến pH, CHC và Nts ban đầu. Ở mức ẩm độ 50% (NT3), hàm lượng CHC đạt cao nhất (76,31%), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}01$) so với đối chứng 70% (63,37%). Hàm lượng Nts của NT3 đạt 3,95%, cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng NT1 (3,83%).
  3. Sản lượng và hiệu suất phân ra: Tổng sản lượng phân thu được sau 7 ngày xả liệu (ngày 8–14) đạt cao nhất ở NT4 (15,63 tấn), tiếp theo là NT2 và NT3 (đều đạt 14,40 tấn), thấp nhất ở NT1 đối chứng (13,40 tấn). Hiệu suất thu hồi sản phẩm phân ra dao động từ 45,25% đến 62,65%.
  4. Chất lượng phân sau ủ:
    • Ẩm độ phân ra ngày thứ 14 ở NT2 (ẩm vào 60%) đạt mức thấp nhất và ổn định nhất là 26,90%.
    • pH sản phẩm dao động 7,33–7,47 (giảm nhẹ so với phân tươi ban đầu do vi sinh vật phân giải hữu cơ tạo axit hữu cơ và CO₂ hòa tan).
    • Hàm lượng CHC sau ủ ở các nghiệm thức đạt từ 78,69% đến 80,36% (NT2 đạt 79,42%).
    • Hàm lượng Nts sau ủ đạt từ 3,57% đến 3,68% (NT2 đạt 3,62%).
    • Tỷ lệ dinh dưỡng khoáng trung bình đạt P₂O₅ hữu hiệu 2,92%, K₂O hữu hiệu 2,96%.
    • Các kim loại nặng độc hại gồm Chì (Pb), Cadimi (Cd), Thủy ngân (Hg) đều không phát hiện trong sản phẩm sau ủ.
Nghiệm thức (Ẩm độ vào) Sản lượng tổng sau 14 ngày (tấn) Ẩm độ phân ra ngày 14 (%) pH sau ủ CHC sau ủ (%) Nts sau ủ (%) P₂O₅ hữu hiệu (%) K₂O hữu hiệu (%) Kim loại nặng (Pb, Cd, Hg)
NT1 (70% - ĐC) 13,40 32,72 7,33 79,16 3,68 - - -
NT2 (60%) 14,40 26,90 7,40 79,42 3,62 2,92 2,96 Không phát hiện
NT3 (50%) 14,40 34,25 7,47 80,36 3,68 - - -
NT4 (40%) 15,63 32,13 7,47 78,69 3,57 - - -

Phần Kết luận và Đề nghị

Khóa luận đúc kết việc ủ phân gà qua tháp Compo tower với ẩm độ nguyên liệu đầu vào 60% (NT2) mang lại hiệu quả tối ưu về mặt chất lượng kỹ thuật: phân ra khô ráo (ẩm độ 26,90%), hàm lượng hữu cơ cao (79,42%), giàu N-P-K và đạt độ an toàn sinh học. Mặt khác, nếu ưu tiên về mặt tổng khối lượng thu hồi thương phẩm thì mức ẩm độ 40% (NT4) cho sản lượng cao nhất (15,63 tấn). Tác giả kiến nghị đưa nghiệm thức ẩm độ 60% vào quy trình sản xuất thực tế tại doanh nghiệp.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập chế độ nhiệt khử khuẩn: Quá trình ủ hiếu khí trong tháp Compo tower duy trì được nhiệt độ khoang ủ chính (khoang 2) từ 53°C đến 76°C, trong đó giai đoạn cao điểm (ngày 6–10) nhiệt độ luôn vượt 65°C, đáp ứng tiêu chuẩn tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ dại mà không cần gia nhiệt nhân tạo.
  • Tối ưu hóa sản lượng và độ ẩm: Nghiệm thức ẩm độ đầu vào 60% (NT2) giúp sản phẩm đầu ra đạt độ ẩm lý tưởng 26,90% vào ngày kết thúc mẻ (ngày 14), tổng sản lượng đạt 14,40 tấn/mẻ 28 tấn nạp. Nghiệm thức ẩm độ 40% (NT4) đạt sản lượng cao nhất 15,63 tấn với hiệu suất thu hồi đạt tới 62,65% ở ngày xả đầu tiên.
  • Chất lượng phân bón hữu cơ thành phẩm: Phân gà sau ủ qua tháp Compo tower ở nghiệm thức 60% có pH trung tính (7,40), hàm lượng chất hữu cơ cao (79,42%), nitơ tổng số đạt 3,62%, photpho hữu hiệu (P₂O₅) đạt 2,92%, kali hữu hiệu (K₂O) đạt 2,96%, hoàn toàn không chứa dư lượng kim loại nặng độc hại (Pb, Cd, Hg).

Đóng góp thực tiễn và khoa học

  • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm đầu tiên về việc vận hành máy ủ đứng Compo tower đối với nguồn nguyên liệu 100% phân gà tươi tại Việt Nam mà không cần phối trộn thêm các nguồn phế phụ phẩm thực vật hay chất mang độn cồng kềnh.
  • Làm rõ mối quan hệ giữa độ ẩm nguyên liệu ban đầu với động thái nhiệt độ 3 khoang, sản lượng thu hồi và các chỉ tiêu hóa sinh của phân bón sau ủ.
  • Đưa ra thông số công nghệ cụ thể (ẩm độ đầu vào tối ưu 60%, chu kỳ 14 ngày, chế độ đảo 10 phút chạy / 10 phút nghỉ) giúp các cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô công nghiệp chuyển đổi chất thải thành phân bón hữu cơ thương phẩm giá trị cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thí nghiệm chỉ mới thực hiện trên một đối tượng nguyên liệu đơn nhất là phân gà tươi phối trộn phân sấy khô tại một địa điểm (huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) trong điều kiện mùa khô (tháng 12 đến tháng 3). Chưa đánh giá biến động vận hành trong mùa mưa khi độ ẩm không khí và ẩm độ nguyên liệu tự nhiên tăng cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Thử nghiệm bổ sung các loại chế phẩm sinh học phân giải xenlulo hoặc chủng vi sinh vật đối kháng để rút ngắn hơn nữa chu kỳ ủ.
    2. Khảo sát vận hành tháp Compo tower trong điều kiện mùa mưa tại khu vực phía Nam.
    3. Đánh giá hiệu lực nông học của sản phẩm phân gà ủ Compo tower khi bón thực tế cho các nhóm cây trồng cụ thể (cây ăn trái, rau màu) ngoài đồng ruộng để kiểm chứng khả năng cải tạo đất và năng suất cây trồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các ngành: Nông học, Khoa học Đất, Nông nghiệp Hữu cơ, Công nghệ Môi trường và Kỹ thuật Nông nghiệp.

Các phần có giá trị tham khảo cao:

  • Quy trình vận hành và thiết lập thông số kỹ thuật cho tháp ủ đứng Compo tower: Chi tiết về phân chia 3 khoang, chế độ cấp khí, chu kỳ đảo trộn cánh khuấy và hệ thống khử mùi 2 bậc (nước và đá bọt) tại Chương 2.
  • Bộ số liệu thực nghiệm về động thái nhiệt độ và biến thiên dưỡng chất: Hệ thống bảng số liệu đối chiếu chi tiết giữa 4 mức ẩm độ đầu vào đối với pH, CHC, Nts, P₂O₅, K₂O và kim loại nặng tại Chương 3.
  • Phương pháp chuẩn bị và phối trộn nguyên liệu điều chỉnh ẩm: Công thức phối trộn phân tươi và phân sấy khô để đạt chính xác các ngưỡng ẩm độ mong muốn (40%, 50%, 60%, 70%) phục vụ bố trí thí nghiệm compost.

Câu hỏi thường gặp

1. Tháp ủ Compo tower có cấu tạo như thế nào và nguyên lý phân chia khoang ra sao?

Tháp ủ Compo tower là hệ thống thùng thép không gỉ khép kín đặt đứng, bên trong trang bị 12 cánh quạt đảo trộn chia làm 3 khoang chính:

  • Khoang 1 (4 cánh trên cùng): Tiếp nhận phân gà đầu vào và phủ một lớp phân đã ủ lên bề mặt làm mồi sinh học.
  • Khoang 2 (4 cánh giữa): Khoang phản ứng chính, nơi phân tươi được đảo trộn, cấp khí cưỡng bức và diễn ra quá trình lên men hiếu khí sinh nhiệt cao.
  • Khoang 3 (4 cánh đáy): Khoang chứa sản phẩm phân sau khi kết thúc lên men, chuẩn bị cho quá trình xả ra ngoài đóng gói.

2. Vì sao nhiệt độ khoang 2 lại đạt mức cao nhất (lên đến 76°C) trong quá trình ủ?

Khoang 2 là nơi tập trung khối lượng phân tươi chính và diễn ra hoạt động phân giải hiếu khí mạnh mẽ nhất của vi sinh vật. Quá trình trao đổi chất của vi sinh vật hiếu khí giải phóng lượng nhiệt nội sinh lớn. Đồng thời, việc đảo trộn định kỳ (10 phút chạy / 10 phút nghỉ) kết hợp 2 máy thổi khí cấp oxy liên tục đã duy trì điều kiện tối ưu cho phản ứng sinh nhiệt, khiến nhiệt độ khoang này dao động từ 53°C đến 76°C (đặc biệt cao vào khung 13h00 trưa do cộng hưởng nhiệt môi trường).

3. Nghiệm thức ẩm độ nào cho kết quả tốt nhất về chất lượng phân bón sau ủ?

Nghiệm thức NT2 (ẩm độ đầu vào 60%) cho kết quả tốt nhất về mặt chất lượng kỹ thuật. Sau 14 ngày ủ, phân thành phẩm đạt độ ẩm thấp và ổn định nhất (26,90%), độ pH trung tính (7,40), hàm lượng chất hữu cơ cao (79,42%), nitơ tổng số 3,62%, photpho hữu hiệu 2,92%, kali hữu hiệu 2,96% và không phát hiện các kim loại nặng độc hại (Pb, Cd, Hg).

4. Khí thải và mùi hôi sinh ra từ tháp Compo tower được xử lý bằng cơ chế nào?

Hệ thống sử dụng hai cơ chế khử mùi kết hợp:

  1. Kiểm soát nhiệt độ: Nhiệt độ lên men hiếu khí trong tháp được duy trì trên 60°C giúp ức chế vi khuẩn phân giải axit uric thành amoniac, giảm thiểu nguồn phát sinh mùi hôi ngay từ bên trong khối ủ.
  2. Hệ thống lọc 2 bậc: Khí thoát ra được dẫn qua hệ thống khử mùi bậc 1 bằng nước, sau đó qua hệ thống khử mùi bậc 2 bằng đá bọt trước khi xả ra môi trường.

5. Sự khác biệt về tổng sản lượng phân thu được giữa các mức ẩm độ đầu vào là bao nhiêu?

Tổng lượng nạp nguyên liệu vào mỗi tháp trong 7 ngày đầu là 28 tấn. Sau chu kỳ 14 ngày, tổng sản lượng phân thu được tại cửa xả (từ ngày 8 đến ngày 14) đạt:

  • NT1 (ẩm 70%): 13,40 tấn (thấp nhất).
  • NT2 (ẩm 60%): 14,40 tấn.
  • NT3 (ẩm 50%): 14,40 tấn.
  • NT4 (ẩm 40%): 15,63 tấn (cao nhất, chênh lệch cao hơn đối chứng NT1 là 2,23 tấn phân thành phẩm).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hữu Bằng đã giải quyết thành công bài toán thực nghiệm xử lý phân gà tươi bằng công nghệ tháp ủ đứng Compo tower tại tỉnh Long An. Kết quả nghiên cứu khẳng định mức ẩm độ nguyên liệu đầu vào 60% là ngưỡng tối ưu để sản xuất phân bón hữu cơ có chất lượng cao (ẩm độ 26,90%, CHC 79,42%, giàu N-P-K và an toàn sinh học), trong khi mức ẩm độ 40% mang lại sản lượng thành phẩm lớn nhất (15,63 tấn/mẻ 28 tấn). Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thông số vận hành tin cậy cho việc ứng dụng công nghệ ủ hiếu khí khép kín nhằm nâng cao giá trị phụ phẩm chăn nuôi gia cầm và bảo vệ môi trường.