Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lê Thị Bảo Như thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 9340301), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Thị Hoàng Minh vào năm 2022.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tính ổn định của lợi nhuận đại diện cho chất lượng lợi nhuận và là cơ sở dự báo dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (Book-Tax Difference - BTD) phản ánh những can thiệp có chủ đích của nhà quản lý hoặc sự khác biệt mang tính kỹ thuật giữa hai hệ thống ghi nhận. Tại Việt Nam, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp liên tục điều chỉnh (như lộ trình giảm thuế suất từ 25% năm 2009 xuống 20% từ năm 2016), đồng thời chế độ kế toán có bước chuyển căn bản khi Thông tư số 200/2014/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC. Trong khi các nghiên cứu quốc tế đã xem xét ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và thành phần dồn tích, khía cạnh dòng tiền phần lớn bị bỏ qua trên thực nghiệm. Tại các thị trường mới nổi như Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đa phần mang tính định tính, chưa phân tách các nguồn gốc tạo ra BTD cũng như chưa so sánh tác động của BTD qua các thời kỳ áp dụng chế độ kế toán khác nhau.

Mục tiêu chung của luận án là kiểm tra, đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận; xác định ảnh hưởng của BTD cùng các nguyên nhân tạo ra BTD đến tính ổn định này; đồng thời so sánh sự khác biệt qua các giai đoạn thay đổi chế độ kế toán tại Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể được xác định gồm ba nội dung:

  1. Kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận, so sánh tính ổn định này giai đoạn trước (2010–2014) và sau khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019).
  2. Xác định và so sánh ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giai đoạn trước (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019).
  3. Xác định và so sánh ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong giai đoạn trước (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019).

Ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng được đặt ra:

  • Câu 1: Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận tại Việt Nam như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
  • Câu 2: BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
  • Câu 3: Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính ổn định của lợi nhuận, tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận (dòng tiền và dồn tích), BTD và các nguyên nhân gây ra BTD tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phạm vi không gian gồm các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Phạm vi thời gian kéo dài 10 năm từ năm 2010 đến năm 2019, được chia làm hai phân kỳ: 2010–2014 (giai đoạn trước Thông tư 200) và 2015–2019 (giai đoạn áp dụng Thông tư 200). Luận án loại trừ các tổ chức thuộc khối ngân hàng, tài chính, bảo hiểm; các công ty thiếu dữ liệu báo cáo tài chính liên tục 3 năm; các công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm 2014; và không mở rộng dữ liệu sang năm 2020–2021 nhằm tránh các biến động ngoại cảnh bất thường do đại dịch Covid-19.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa ba dòng nghiên cứu chính trong và ngoài nước:

Thứ nhất, dòng nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận. Các nghiên cứu ban đầu xem biến động lợi nhuận là ngẫu nhiên giữa các năm (Ball và Brown, 1969; Ball và Watts, 1972). Sau đó, Brooks và Buckmaster (1976), R. Freeman và cộng sự (1982), Lipe (1990) chứng minh lợi nhuận có tính lặp lại và có khả năng dự báo. Sloan (1996) đặt nền tảng khi phân rã lợi nhuận thành thành phần dồn tích và thành phần dòng tiền, chỉ ra rằng dòng tiền có tính ổn định cao hơn dồn tích vì dồn tích chứa đựng ước tính chủ quan và có xu hướng đảo ngược. Các nghiên cứu quốc tế tiếp theo củng cố kết luận này (Patricia M. Dechow, 1994; Fairfield và cộng sự, 2003b; Richardson và cộng sự, 2005, 2006; Allen và cộng sự, 2013). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Lê Quang Minh và cộng sự (2013), Đường Nguyễn Hưng (2014), Nguyet (2017), Vinh và Huong (2019), Hung và Van (2020), Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021) đều xác nhận lợi nhuận có tính ổn định và dòng tiền bền vững hơn dồn tích. Tuy nhiên, nghiên cứu của Nhung và cộng sự (2020) gộp chung giai đoạn 2008–2017 nên chịu ảnh hưởng của sự thay đổi chế độ kế toán mà chưa kiểm soát phân kỳ.

Thứ hai, dòng nghiên cứu về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận. Mills và Newberry (2001), Phillips và cộng sự (2003), Hanlon (2005), Tang (2006) nhận diện BTD là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng lợi nhuận. Hanlon (2005) chứng minh các công ty có BTD lớn thể hiện tính ổn định của lợi nhuận và thành phần dồn tích thấp hơn. Blaylock và cộng sự (2012) mở rộng phân tích BTD tạm thời, trong khi Lev và Nissim (2004), Jackson (2015), Guenther (2011) tranh luận về vai trò của BTD tạm thời và BTD vĩnh viễn. Đa số nghiên cứu quốc tế chỉ tập trung vào thành phần dồn tích mà chưa thực nghiệm đánh giá thành phần dòng tiền (Jeong và Choi, 2019). Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Thị Minh Trang (2011), Chúc Anh Tú (2014), Trần Thị Lan Hương và Ngô Thị Hường (2017), Trương Thùy Vân (2017), M. Minh và Nhu (2019), Lê Thị Bảo Như và cộng sự (2020) chủ yếu phân tích quy định kỹ thuật kế toán - thuế hoặc xem xét BTD với tính thận trọng, chưa kiểm tra tác động của BTD lên tính ổn định của lợi nhuận và dòng tiền.

Thứ ba, dòng nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD. Hanlon (2005), Blaylock và cộng sự (2012) xác định ba nguồn gốc chính tạo ra BTD gồm: điều chỉnh lợi nhuận (EM), tránh thuế (TAXAVOIDER), và sự khác biệt giữa quy định kế toán với luật thuế (BASE). Nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2006), Wilson (2009), Frank và cộng sự (2009), Comprix và cộng sự (2010), Ayers và cộng sự (2010) cho thấy các công ty có BTD dương lớn phát sinh từ điều chỉnh lợi nhuận sẽ làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận; ngược lại, nếu xuất phát từ tránh thuế có thể tạo ra dòng tiền bổ sung hoặc duy trì mức độ ổn định khác biệt. Tại Việt Nam, các tác giả như Huỳnh Thị Cẩm Hà và cộng sự (2016), Hà và Quyên (2017), Khuong và cộng sự (2019), Khanh và Khuong (2019), Ha và cộng sự (2021, 2022), Le và Moore (2022) mới tiếp cận hành vi tránh thuế hoặc quản trị lợi nhuận ở các góc độ như nắm giữ tiền mặt, đòn bẩy hoặc giá trị công ty, chưa phân loại cụ thể các nguyên nhân gây ra BTD để kiểm định tính ổn định của lợi nhuận.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Thiếu nghiên cứu thực nghiệm toàn diện tại thị trường mới nổi như Việt Nam về mối quan hệ giữa BTD và tính ổn định của lợi nhuận.
  • Bỏ sót ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây BTD đến tính ổn định của thành phần dòng tiền.
  • Chưa có công trình so sánh tính ổn định của lợi nhuận và tác động của BTD qua hai giai đoạn thay đổi chế độ kế toán (trước và sau Thông tư 200/2014/TT-BTC).
  • Thiết lập phương pháp phân nhóm nguyên nhân BTD phù hợp với điều kiện Việt Nam, triệt tiêu tác động từ việc điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp qua nhiều năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng bốn lý thuyết nền tảng trong kế toán tài chính:

  1. Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory): Xem xét vai trò của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính trong việc cung cấp thông tin giúp người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế và dự báo luồng tiền, lợi nhuận tương lai.
  2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): Giải thích nhu cầu thông tin minh bạch của các nhóm đối tượng có lợi ích liên quan đến doanh nghiệp (cổ đông, chủ nợ, nhà nước, đối tác) trước các sai lệch kế toán và thuế.
  3. Lý thuyết đại diện (Agency theory): Phân tích xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông, là cội nguồn của hành vi cơ hội, thao túng các khoản dồn tích nhằm điều chỉnh lợi nhuận hoặc khai thác kẽ hở luật thuế vì mục tiêu cá nhân.
  4. Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive accounting theory): Cung cấp khung lập luận giải thích hành vi lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản lý dưới các ràng buộc về chi phí chính trị, hợp đồng thưởng và hợp đồng nợ vay.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế dữ liệu bảng động (dynamic panel data), tích hợp biến trễ của biến phụ thuộc vào mô hình hồi quy. Quy trình nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

Bước thực hiện Nội dung và kỹ thuật áp dụng
1. Kiểm tra mô hình cơ sở Kiểm định tính ổn định của lợi nhuận ($PTBI_{i,t+1}$ hồi quy theo $PTBI_{i,t}$) và tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận ($PTBI_{i,t+1}$ hồi quy theo dòng tiền $CFO_{i,t}$ và dồn tích $ACC_{i,t}$).
2. Kiểm định vai trò của BTD Phân chia mẫu nghiên cứu thành 3 nhóm phụ: BTD âm lớn (LNBTD), BTD dương lớn (LPBTD) và nhóm đối chứng; đưa biến tương tác vào mô hình để đo lường mức độ suy giảm hoặc gia tăng tính ổn định.
3. Phân nhóm nguyên nhân BTD Đối với nhóm LPBTD, tách thành ba nhóm nguyên nhân: điều chỉnh lợi nhuận tăng (EM), tránh thuế (TAXAVOIDER), và khác biệt quy định kế toán - thuế (BASE). Áp dụng hai cách phân loại kỹ thuật để kiểm tra tính vững.
4. Kiểm định chẩn đoán vi phạm Thực hiện ma trận tương quan Pearson; kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số VIF; kiểm định lựa chọn mô hình: F-test (POLS so với FEM), Breusch-Pagan LM test (POLS so với REM), Hausman test (FEM so với REM).
5. Ước lượng khắc phục khuyết tật Kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi (Modified Wald test) và tự tương quan (Wooldridge test). Sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) để khắc phục sai số phi hình cầu.

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2010–2019, chia thành 2 phân kỳ 5 năm (2010–2014 và 2015–2019) nhằm đối chiếu tác động của Thông tư 200/2014/TT-BTC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương này tổng kết có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ba mảng nội dung: tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận; ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần; ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa phân định rõ ranh giới thay đổi chế độ kế toán khi thu thập mẫu dữ liệu dài hạn, đồng thời chưa gắn kết BTD với thành phần dòng tiền. Từ đó, chương xác lập khe hổng nghiên cứu và luận giải cơ sở khoa học để triển khai luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Chương 2 làm rõ các khái niệm căn bản: lợi nhuận kế toán, thu nhập chịu thuế, tính ổn định của lợi nhuận, các thành phần dòng tiền và dồn tích, bản chất chênh lệch BTD (chênh lệch tạm thời, chênh lệch vĩnh viễn), các nhóm nguyên nhân gây ra BTD (EM, TAXAVOIDER, BASE). Tác giả vận dụng 4 lý thuyết nền tảng (lý thuyết thông tin hữu ích, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết đại diện, lý thuyết kế toán thực chứng) cùng đặc thù bối cảnh kinh tế, thể chế kế toán và lộ trình điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam để xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu xoay quanh tính ổn định của lợi nhuận, vai trò điều tiết của BTD và sự phân hóa theo từng nguyên nhân gây ra BTD qua hai giai đoạn áp dụng chế độ kế toán.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Tác giả thiết lập khung phương pháp luận định lượng, mô tả sơ đồ quy trình nghiên cứu đề xuất (Hình 3.1) và đặc điểm dữ liệu bảng động. Chương 3 xây dựng chi tiết các mô hình hồi quy kế thừa từ Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012), thiết lập công thức xác định các biến: lợi nhuận trước thuế ($PTBI$), dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$), tổng biến dồn tích ($ACC$), biến phân loại BTD (LNBTD, LPBTD), các biến đại diện cho nguồn gốc BTD ($EM$, $TAXAVOIDER$, $BASE$). Tác giả trình bày tiêu chí chọn mẫu, các bước xử lý dữ liệu, kiểm định lựa chọn mô hình giữa POLS, FEM, REM và quy trình xử lý vi phạm giả định bằng ước lượng FGLS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan Pearson và chỉ số VIF khẳng định mô hình không bị đa cộng tuyến nghiêm trọng. Các kiểm định F-test, Breusch-Pagan và Hausman xác định mô hình FEM hoặc REM phù hợp hơn POLS. Các kiểm định tiếp theo ghi nhận sự tồn tại của hiện tượng phương sai thay đổi của phần dư và hiện tượng tự tương quan trên dữ liệu bảng. Do đó, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy FGLS để thu được các ước lượng vững. Kết quả thực nghiệm khẳng định:

  • Trong cả hai giai đoạn (2010–2014 và 2015–2019), lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận đều có tính ổn định thống kê; thành phần dòng tiền có hệ số ổn định cao hơn thành phần dồn tích.
  • Khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019), BTD càng lớn làm giảm tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận rõ rệt hơn so với giai đoạn trước.
  • Đối với nhóm công ty có BTD dương lớn (LPBTD) trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200, các công ty phát sinh BTD do điều chỉnh tăng lợi nhuận ($EM$) có tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần thấp hơn; trong khi các công ty có BTD phát sinh do tránh thuế ($TAXAVOIDER$) lại có tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần cao hơn so với nhóm BTD phát sinh do khác biệt quy định kế toán - thuế ($BASE$). Kết quả phân loại theo hai kỹ thuật đo lường khác nhau đều cho ra kết luận nhất quán.

Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị

Chương cuối cùng tổng hợp các kết quả thực nghiệm đạt được, trình bày đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn của đề tài. Tác giả xây dựng hệ thống khuyến nghị, hàm ý quản trị cụ thể cho ba nhóm đối tượng: cơ quan hoạch định chính sách nhà nước, kế toán trưởng và nhà quản lý doanh nghiệp, cùng các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Chương này cũng nêu rõ các giới hạn phạm vi nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và ứng dụng thực tiễn như sau:

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầy đủ về tính ổn định của lợi nhuận và từng thành phần (dòng tiền, dồn tích) trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Khẳng định vai trò giải thích của BTD đối với tính ổn định của thành phần dòng tiền – một khoảng trống mà các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế trước đây chưa kiểm tra thấu đáo.
  • Đề xuất phương pháp phân nhóm các công ty có BTD dương lớn theo ba nguyên nhân căn bản (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, và khác biệt quy định kỹ thuật), loại trừ được sự sai lệch do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp biến động liên tục qua nhiều năm tại Việt Nam.
  • Làm rõ sự chuyển biến về chất lượng lợi nhuận và tính ổn định của các chỉ tiêu tài chính dưới tác động của sự thay đổi chế độ kế toán (so sánh trước và sau Thông tư 200/2014/TT-BTC).

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực chứng để Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế rà soát, thu hẹp các khoảng cách bất hợp lý giữa chuẩn mực kế toán và luật thuế; tăng cường các quy định công bố thông tin bắt buộc đối với thuyết minh chênh lệch BTD; xây dựng tiêu chí giám sát rủi ro thuế dựa trên độ lớn và tính chất bất thường của BTD.
  • Đối với nhà quản lý và kế toán trưởng: Nhận thức rõ ràng việc lạm dụng điều chỉnh tăng lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích sẽ làm suy giảm tính bền vững của lợi nhuận trong tương lai; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch quản trị dòng tiền và chiến lược lập kế hoạch thuế hợp pháp mà không làm tổn hại đến chất lượng số liệu tài chính.
  • Đối với nhà đầu tư và cổ đông: Cung cấp công cụ phân tích chất lượng lợi nhuận chuyên sâu; lưu ý nhà đầu tư không chỉ nhìn vào con số lợi nhuận công bố mà cần bóc tách mức độ BTD cùng nguồn gốc hình thành để dự báo chính xác dòng tiền và khả năng sinh lời dài hạn của doanh nghiệp niêm yết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế nghiên cứu xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Mẫu nghiên cứu loại trừ các định chế tài chính, ngân hàng và bảo hiểm do các đơn vị này tuân thủ khung pháp lý kế toán và chỉ tiêu báo cáo đặc thù; do đó, kết quả nghiên cứu không đại diện cho toàn bộ các ngành kinh tế.
  • Giai đoạn nghiên cứu dừng lại ở năm 2019, tác giả chủ động không cập nhật dữ liệu hai năm 2020 và 2021 nhằm tránh các biến động ngoại cảnh bất thường do đại dịch Covid-19 tác động lên kết quả kinh doanh và chỉ tiêu báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết.
  • Mô hình nghiên cứu chỉ phân loại nguyên nhân BTD đối với nhóm BTD mang giá trị dương lớn (LPBTD) mà chưa phân tích chi tiết các nguyên nhân cụ thể trong nhóm BTD mang giá trị âm lớn (LNBTD).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi ý:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo sau đại dịch Covid-19 và khi Việt Nam triển khai áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
  • Nghiên cứu sâu hơn về các nguyên nhân hình thành nên nhóm BTD âm lớn (LNBTD) cũng như tác động của BTD đến các thước đo chất lượng lợi nhuận khác (như tính thận trọng, tính kịp thời, giá trị thích hợp của thông tin).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Tài chính doanh nghiệp: Cung cấp khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết kế toán thực chứng và mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng động; phương pháp phân tách BTD thành các nhóm nguyên nhân kinh tế cụ thể.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cơ quan Thuế): Tham khảo căn cứ thực chứng để hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin báo cáo tài chính, quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và đánh giá sự tương thích giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực quốc tế.
  • Chuyên viên phân tích tài chính, kiểm toán viên độc lập và nhà đầu tư: Sử dụng các biến số BTD và dấu hiệu phân loại nguyên nhân BTD để phát hiện rủi ro điều chỉnh lợi nhuận, đánh giá tính bền vững của dòng tiền kinh doanh trước khi ra quyết định đầu tư hoặc thẩm định giá doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa BTD như thế nào và nghiên cứu đối tượng này trong khoảng thời gian nào?
Trong luận án, BTD được định nghĩa là khoản chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Luận án khảo sát dữ liệu của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010 đến 2019, chia thành hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019.

2. Tại sao luận án không thu thập số liệu giai đoạn 2020–2021?
Tác giả không cập nhật số liệu năm 2020 và 2021 vào mẫu nghiên cứu vì trong hai năm này, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ từ dịch bệnh Covid-19, gây ra những biến động bất thường đến lợi nhuận và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, có thể làm sai lệch kết quả ước lượng thực nghiệm.

3. Khác biệt về tính ổn định giữa dòng tiền và dồn tích được ghi nhận ra sao?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở cả hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019 đều chỉ ra rằng cả dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và các khoản dồn tích đều có tính ổn định thống kê, nhưng hệ số ổn định của thành phần dòng tiền luôn cao hơn so với thành phần dồn tích.

4. Dưới tác động của Thông tư 200/2014/TT-BTC, BTD ảnh hưởng thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận?
Trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019), độ lớn của BTD có ảnh hưởng nghịch chiều đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận. Nghĩa là BTD càng lớn thì tính ổn định của lợi nhuận, dòng tiền và dồn tích càng suy giảm.

5. Nhóm doanh nghiệp có BTD dương lớn do điều chỉnh lợi nhuận và do tránh thuế có tính ổn định lợi nhuận khác nhau như thế nào?
Đối với nhóm công ty có BTD dương lớn trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200, các công ty phát sinh BTD do hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận ($EM$) có lợi nhuận và các thành phần kém ổn định hơn; trong khi các công ty phát sinh BTD do hành vi tránh thuế ($TAXAVOIDER$) lại có lợi nhuận và các thành phần ổn định hơn so với nhóm công ty phát sinh BTD do sự khác biệt kỹ thuật giữa quy định kế toán và luật thuế ($BASE$).

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thị Bảo Như đã giải quyết toàn diện vấn đề ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận cùng các thành phần dòng tiền, dồn tích tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010–2019. Thông qua việc phân kỳ trước và sau khi ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC kết hợp kỹ thuật hồi quy FGLS trên dữ liệu bảng động, công trình làm rõ sự khác biệt mang tính quy luật giữa các nhóm nguyên nhân gây ra BTD (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, và khác biệt quy định kế toán - thuế). Các kết quả thực nghiệm đạt được cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho các nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện thể chế tài chính - thuế, đồng thời hỗ trợ nhà quản lý doanh nghiệp và nhà đầu tư nâng cao năng lực đánh giá chất lượng lợi nhuận kế toán.