Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới đến hàm lượng nitơ phốt pho dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện phú xuyên hà nội001

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới đến hàm lượng nitơ phốt pho dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới và Việt Nam

1.1.1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới

1.1.2. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa tại Việt Nam

1.2. Khái quát về phương pháp tưới truyền thống và tưới tiết kiệm

1.2.1. Phương pháp tưới truyền thống

1.2.2. Phương pháp tưới tiết kiệm – Tưới nông lộ phơi (NLP)

1.3. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới và Việt Nam

1.3.1. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới

1.3.2. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa tại Việt Nam

1.4. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ tiêu trên thế giới và Việt Nam

1.4.1. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ tiêu trên thế giới

1.4.2. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ tiêu tại Việt Nam

1.5. Nhu cầu dinh dưỡng Nitơ, Phốt pho của lúa vùng Đồng bằng sông Hồng

1.5.1. Nhu cầu dinh dưỡng Nitơ của cây lúa

1.5.2. Nhu cầu dinh dưỡng Phốt pho của cây lúa

1.6. Tổng quan về Nitơ, Phốt pho trong đất trồng lúa. Quá trình chuyển hóa của N, P trong đất lúa

1.7. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình chuyển hóa N, P trong đất

1.8. Ảnh hưởng của chế độ nước đến các yếu tố chi phối sự tồn tại và chuyển hóa Nitơ, Phốt pho trong đất

1.8.1. Ảnh hưởng của chế độ nước đến chất hữu cơ trong đất

1.8.2. Ảnh hưởng của chế độ nước đến diễn biến pH đất

1.8.3. Ảnh hưởng của chế độ nước đến diễn biến thế ôxy hóa khử của đất

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa

2.3.2. Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa

2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.3.4. Phương pháp nghiên cứu đồng ruộng

2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phú Xuyên

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.3. Một số tính chất lý – hóa học đất nghiên cứu

3.2. Kết quả thí nghiệm trong phòng

3.2.1. Động thái pH, Eh đất thông qua hai phương pháp tưới

3.2.2. Biến động hàm lượng N, P tổng số thông qua hai phương pháp tưới

3.2.3. Biến động hàm lượng N dễ tiêu thông qua hai phương pháp tưới

3.2.4. Biến động hàm lượng PDT thông qua hai phương pháp tưới

3.3. Kết quả thí nghiệm đồng ruộng

3.3.1. Động thái pH, Eh thông qua hai phương pháp tưới tại thí nghiệm đồng ruộng

3.3.2. Biến động hàm lượng N, P tổng số thông qua hai phương pháp tưới tại thí nghiệm đồng ruộng

3.3.3. Biến động hàm lượng N dễ tiêu thông qua hai phương pháp tưới tại thí nghiệm đồng ruộng

3.3.4. Biến động hàm lượng PDT thông qua hai phương pháp tưới tại thí nghiệm đồng ruộng

3.4. Ảnh hưởng của chế độ tưới đến năng suất lúa

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng chế độ tưới đến hàm lượng dinh dưỡng trong đất lúa

Chế độ tưới nước có vai trò quan trọng trong việc duy trì hàm lượng dinh dưỡng trong đất trồng lúa. Nghiên cứu cho thấy rằng việc lựa chọn phương pháp tưới phù hợp không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lúa mà còn tác động đến sự chuyển hóa của các chất dinh dưỡng như Nitơ và Phốt pho. Việc áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm có thể giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất mà vẫn đảm bảo năng suất.

1.1. Tầm quan trọng của chế độ tưới trong sản xuất lúa

Chế độ tưới nước ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Nước không chỉ cung cấp độ ẩm mà còn giúp hòa tan và vận chuyển các chất dinh dưỡng trong đất. Việc tưới đúng cách sẽ giúp cây lúa hấp thụ tốt hơn các chất dinh dưỡng cần thiết.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Hàm lượng dinh dưỡng trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại đất, phương pháp tưới, và điều kiện khí hậu. Việc tưới quá nhiều hoặc quá ít đều có thể dẫn đến sự mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa.

II. Vấn đề và thách thức trong chế độ tưới lúa hiện nay

Ngành sản xuất lúa hiện đang đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến nguồn nước tưới. Biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số đã làm gia tăng áp lực lên nguồn nước, dẫn đến tình trạng khan hiếm nước trong mùa khô và ngập úng trong mùa mưa. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện phương pháp tưới để đảm bảo năng suất lúa.

2.1. Tình trạng khan hiếm nước và ảnh hưởng đến sản xuất lúa

Khan hiếm nước là một trong những thách thức lớn nhất đối với sản xuất lúa. Nhiều vùng trồng lúa đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa.

2.2. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước tưới

Ô nhiễm nguồn nước tưới do hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đang gia tăng, ảnh hưởng đến chất lượng đất và cây trồng. Việc sử dụng nước ô nhiễm có thể dẫn đến sự tích tụ của các chất độc hại trong đất và cây lúa.

III. Phương pháp tưới tiết kiệm và ảnh hưởng đến dinh dưỡng đất

Phương pháp tưới tiết kiệm như tưới nông lộ phơi (NLP) đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiện hàm lượng dinh dưỡng trong đất. Phương pháp này không chỉ tiết kiệm nước mà còn giúp tăng cường sự phát triển của rễ cây, từ đó nâng cao khả năng hấp thụ dinh dưỡng.

3.1. Tưới nông lộ phơi NLP và lợi ích của nó

Tưới nông lộ phơi giúp giảm lượng nước tưới từ 20-30% mà vẫn đảm bảo năng suất lúa. Phương pháp này cũng giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất bằng cách tăng cường sự chuyển hóa của các chất dinh dưỡng.

3.2. So sánh giữa tưới truyền thống và tưới tiết kiệm

Tưới truyền thống thường dẫn đến tình trạng ngập úng, làm giảm hàm lượng oxy trong đất. Trong khi đó, tưới tiết kiệm giúp duy trì độ ẩm tối ưu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa và tăng cường hàm lượng dinh dưỡng trong đất.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chế độ tưới

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng chế độ tưới tiết kiệm không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn cải thiện đáng kể hàm lượng Nitơ và Phốt pho dễ tiêu trong đất. Kết quả này đã được xác nhận qua nhiều thí nghiệm thực địa tại huyện Phú Xuyên, Hà Nội.

4.1. Kết quả thí nghiệm về hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Các thí nghiệm cho thấy hàm lượng Nitơ và Phốt pho dễ tiêu trong đất tăng lên khi áp dụng phương pháp tưới tiết kiệm. Điều này chứng tỏ rằng chế độ tưới có ảnh hưởng lớn đến sự chuyển hóa dinh dưỡng trong đất.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong sản xuất lúa

Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất lúa tại nhiều địa phương, giúp nông dân tiết kiệm nước và tăng năng suất lúa. Việc áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm đã trở thành một xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp hiện đại.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về chế độ tưới lúa

Chế độ tưới có ảnh hưởng sâu sắc đến hàm lượng dinh dưỡng trong đất lúa. Việc áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn nâng cao năng suất và chất lượng lúa. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp tưới hiệu quả hơn để đảm bảo an ninh lương thực.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các công nghệ tưới mới, giúp tối ưu hóa việc sử dụng nước và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa.

5.2. Định hướng phát triển bền vững trong sản xuất lúa

Định hướng phát triển bền vững trong sản xuất lúa cần chú trọng đến việc bảo vệ nguồn nước và cải thiện chất lượng đất, từ đó đảm bảo an ninh lương thực cho tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới đến hàm lượng nitơ phốt pho dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện phú xuyên hà nội001

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới và Việt Nam 1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới Hiện nay trên toàn thế giới có 3.800 tỷ m3 nước được khai thác sử dụng, trong đó có 2.700 tỷ m3 (chiếm 70%) được sử dụng trong tưới tiêu nông nghiệp. Tuy nhiên nhu cầu nước sử dụng trong tưới tiêu nông nghiệp lại thay đổi tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế và dân số của từng khu vực, quốc gia.

Ví dụ: Gần 95% lượng nước tại các nước đang phát triển được sử dụng để tưới tiêu cho nông nghiệp. Trong khi đó tại các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha lượng nước được sử dụng để tưới tiêu cho nông nghiệp lần lượt chiếm 88%, 72%, 59%. Tùy theo điều kiện cung cấp nước, địa hình, đất trồng lúa có thể phân chia làm các loại như sau: đất lúa đồng bằng được tưới (chiếm khoảng 79 triệu ha), đất lúa nhờ nước mưa ( 54 triệu ha), đất lúa ngập nước quanh năm (11 triệu ha), đất lúa nương rẫy (14 triệu ha). Trong số 79 triệu ha đất lúa thuộc khu vực đồng bằng được tưới cung cấp cho thế giới 75% tổng sản lượng lúa của thế giới.

Như vậy nước đóng một vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp toàn thế giới song có một thực tế đó là hiện nay nguồn nước ngầm đã giảm mạnh và cạn kiệt ở 20 nước với dân số chiếm tới 50% dân số thế giới. Nạn khan hiếm nước cho nông nghiệp tại 3 nước sản xuất ngũ cốc hàng đầu thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ đặc biệt lo ngại. Liên Hợp Quốc khẳng định Châu Á có thể đối mặt với tình trạng thiếu lương thực triền miên nếu không tiến hành một cuộc cách mạng triệt để thói quen sử dụng nước. Châu Á sở hữu tới 70% diện tích đất được tưới của thế giới vì vậy người nông dân phải tự chịu trách nhiệm về việc đưa nước vào đồng ruộng của họ.

Phần lớn nông dân chỉ sử dụng những thiết bị bơm nước và phương pháp tưới tiêu lạc hậu, không hiệu quả nhưng lại có thể lấy một lượng nước không hạn chế vào đồng ruộng khiến các nguồn nước ngày một cạn kiệt. Nếu thói quen này vẫn tiếp diễn thì khủng hoảng lương thực sẽ bùng phát khắp Châu Á. Nếu cứ sử dụng nước như hiện nay, khu vực Nam Á sẽ cần thêm 57% nước để tưới tiêu đồng ruộng, còn các nước Đông Á cần thêm 70%. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn nước cung cấp cho nền nông nghiệp có tưới thậm chí còn bị cắt giảm nhiều hơn do phải cạnh tranh với các ngành dùng nước khác như cấp nước sinh hoạt, cấp nước công nghiệp.

Trong bối cảnh nhu cầu lương thực gia tăng cùng với sự gia tăng của dân số thế giới, biến đổi khí hậu cũng như sự suy giảm nguồn nước đã dẫn tới một thách thức lớn cho ngành nông nghiệp toàn cầu, đòi hỏi cần tìm kiếm các giải pháp nhằm tăng hiệu quả sử dụng nước (sản xuất lượng lương thực nhiều hơn trên một đơn vị nước tưới). Tổng quan về tình hình tưới cho lúa tại Việt Nam Cả nước hiện nay có 104.548 công trình thủy nông lớn, vừa và nhỏ phục vụ tưới cho tổng diện tích 2. Trong đó hồ chứa vừa và lớn có 743 hồ, trạm bơm điện có 1796 trạm bơm, đập dâng có 1017 cái, cống lấy nước có 4716 cái [5]. Xét về tỷ lệ diện tích canh tác được tưới, Việt Nam có tỷ lệ diện tích canh tác được tưới là 52%, cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới và khu vực [5].

Ngoài ra theo dự đoán của các chuyên gia đến năm 2025 nhu cầu dùng nước cho các ngành kinh tế của Việt Nam vào khoảng 90 tỷ m3, chiếm 10,8% lượng nước chảy vào lãnh thổ Việt Nam và chiếm 27% lượng nước sản sinh ra trên lãnh thổ, đây là tỷ lệ quá cao so với thế giới. Như vậy trước thực trạng về sự suy giảm nguồn nước, biến đổi khí hậu trong đó Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất mà chúng ta vẫn giữ các thói quen sử dụng nước một cách lãng phí, không hiệu quả thì sẽ là một thách thức rất lớn cho nền nông nghiệp nước nhà [5]. Khái quát về phương pháp tưới truyền thống và tưới tiết kiệm 1. Phương pháp tưới truyền thống Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là canh tác lúa bà con nông dân nhiều nơi vẫn áp dụng tập quán canh tác cũ đó là đưa nước vào ruộng quá nhiều, luôn có một lớp nước cao 5-7 cm trong ruộng lúa suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển.

Chính điều này làm cho các lỗ hổng trong đất bị chiếm chỗ, lấp đầy bởi nước làm giảm hàm lượng oxy trong đất, tạo môi trường yếm khí, ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cây lúa, tuy là cây chịu nước nhưng không phải cây thủy sinh, có những giai đoạn cây cần nước song cũng có những thời kỳ nếu cung cấp quá nhiều nước cũng ảnh hưởng không tốt tới sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Quá trình canh tác chỉ cần tưới ngập mặt ruộng giai đoạn hồi xanh (tránh cỏ) và giai đoạn trổ bông ( không ảnh hưởng tới năng suất). Chính vì vậy canh tác theo phương pháp truyền thống gây lãng phí nước, đem lại hiệu quả không cao trong sản xuất nông nghiệp.

Phương pháp tưới tiết kiệm – Tưới nông lộ phơi (NLP) Hiện nay trong canh tác lúa, biện pháp tưới tiết kiệm nước cho hiệu quả cao và được khuyến cáo nhiều nhất là kỹ thuật tưới nông lộ phơi (NLP) – theo khuyến cáo của Cục Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo IRRI kỹ thuật tưới NLP như sau: - Tuần đầu tiên sau sạ: giữ mực nước từ bão hòa đến cao khoảng 1 cm, mực nước trong ruộng sẽ được giữ cao khoảng 1 – 3 cm theo giai đoạn phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho đến lúc bón phân lần 2 (khoảng 20 – 25 ngày sau sạ), giai đoạn này nước là nhu cầu thiết yếu để cây lúa phát triển. Giữ nước trong ruộng ở giai đoạn này sẽ hạn chế được sự mọc mầm của cỏ dại, bởi có nước làm môi trường thành yếm khí, hạt cỏ dại sẽ không mọc được và cũng cần sử dụng thuốc trừ cỏ phù hợp ở giai đoạn này. - Giai đoạn 25 – 40 ngày: đây là giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ và tối đa, phần lớn chồi vô hiệu thường phát triển ở giai đoạn này, nên chỉ cần nước vừa đủ.

Lúc này giữ mực nước trong ruộng từ bằng mặt đến thấp hơn mặt ruộng 15 cm (đặt ống nhựa có đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5 cm để theo dõi). Khi nước xuống thấp hơn 15 cm thì bơm nước vào ruộng ngập tối đa 5 cm so với mặt ruộng. Khi nước hạ từ từ xuống dưới vạch 15 cm thì tiếp tục bơm nước vào. Ở giai đoạn này lá lúa phát triển giáp tán, hạt cỏ có nảy mầm cũng không phát triển và cạnh tranh được với cây lúa.

Đây cũng là giai đoạn cây lúa rất dễ bị bệnh khô vằn tấn công, mực nước không quá cao làm hạch nấm khô vằn sẽ không phát tán trong ruộng, bệnh ít lây lan. Cách điều tiết nước này sẽ làm phơi lộ mặt ruộng, vì vậy phương pháp này được gọi là tưới nông lộ phơi. Mực nước dưới đất càng xa (nhưng không thấp hơn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 cm so với mặt ruộng) sẽ giúp rễ lúa ăn sâu vào trong đất, vừa chống đổ ngã, vừa dễ thu hoạch. Hình 1: Ống nhựa có đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5 cm để theo dõi - Giai đoạn lúa 40 – 45 ngày: đây là giai đoạn bón đón đòng, lúc này cần bơm nước vào khoảng 1– 3 cm trước khi bón phân, nhằm tránh ánh sáng làm phân hủy và phân bị bốc hơi, nhất là phân đạm.

- Giai đoạn lúa 60 – 70 ngày: đây là giai đoạn lúa trổ nên cần giữ nước cho cây lúa trổ và thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép lửng. - Giai đoạn lúa 70 ngày tới thu hoạch: là giai đoạn ngậm sữa, chắc xanh và chín nên chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt ruộng đến thấp hơn mặt ruộng 15 cm (khi cần thiết thì bơm nước vào thêm). Cần xiết nước 10 ngày trước khi thu hoạch để mặt ruộng được khô ráo, dễ cho việc sử dụng máy gặt.  Điều kiện áp dụng tưới lúa tiết kiệm – Tưới NLP [4] - Hệ thống công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, chủ động tưới tiêu.

- Mặt ruộng tương đối bằng phẳng. - Không áp dụng cho vùng đất trồng lúa ảnh hưởng bởi chua phèn hoạt tính và nước tưới nhiễm mặn. - Không khuyến khích áp dụng cho vùng đất trũng và lúa vụ 3 (vụ Thu Đông) vì chi phí bơm tiêu lớn. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com  Lợi ích khi áp dụng kỹ thuật tưới NLP [4] - Năng suất lúa tăng 5-10% - Tiết kiệm lượng nước 20-30% - Lượng phát thải khí nhà kính giảm 20-30% - Cây lúa cứng không đổ ngã, giảm thất thoát sau thu hoạch so với tưới ngập liên tục.

Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới Như đã biết, ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo là ngành có tỷ lệ tiêu thụ nước lớn nhất, chiếm hơn 80% lượng nước tưới ở khu vực Châu Á. Vì vậy đây là khu vực được các nhà khoa học ưu tiên nghiên cứu nhằm tìm các biện pháp tưới thích hợp thay thế biện pháp tưới truyền thống để giảm lượng nước tưới cho canh tác lúa. Tùy theo khu vực nghiên cứu, các giải pháp giảm lượng nước tưới có thể chia làm 2 loại: - Giảm lượng nước tưới trên hệ thống dẫn.

- Giảm lượng nước tưới tại mặt ruộng. Việc giảm lượng nước tưới trên hệ thống dẫn chủ yếu được thực hiện thông qua việc làm giảm tổn thất do thấm trên kênh dẫn thông qua việc cải tạo, nâng cấp hệ thống kênh dẫn nước bằng việc cứng hóa hay lát mái kênh. Hay nói cách khác là dùng giải pháp công trình để giảm lượng nước tưới. Tuy nhiên biện pháp này thường chỉ giảm được lượng nước từ 5 – 15%.

Hơn nữa biện pháp này đòi hỏi vốn đầu tư lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ