Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN THÔNG QUA NGÂN HÀNG HỢP TÁC 1.1 Vai trò của Ngân hàng Hợp tác trong đảm bảo an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân 1.1 Sự ra đời của Ngân hàng Hợp tác Sự ra đời của Ngân hàng Hợp tác xuất phát từ nhu cầu đảm bảo an toàn cho hệ thống QTDND. Theo Hiệp hội liên minh tín dụng quốc gia Hoa Kỳ, QTDND là một định chế tài chính phi lợi nhuận, được xây dựng nhằm phục vụ cho các nhóm người có cùng đặc điểm về nơi làm việc, nơi cư trú,. được quản lý và kiểm soát bởi chính các thành viên và cũng là những người sử dụng các dịch vụ mà QTDND cung ứng, đó là huy động tiền gửi tiết kiệm từ các thành viên để cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác với giá cả hợp lý. Theo Hội đồng liên minh tín dụng thế giới, QTDND là một loại hình trung gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác, thuộc quyền sở hữu của các thành viên và quản lý QTDND một cách dân chủ.
QTDND hoạt động nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về tài chính của mọi thành viên thông qua việc khuyến khích tiết kiệm, cho vay thành viên và thông qua các hoạt động khác do chính các thành viên quyết định, để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của các thành viên một cách tốt nhất, lâu dài nhất, vì thế QTDND cần quan tâm đến sự ổn định về tài chính [3]. Theo Khoản 6 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam 2010 quy định: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức Hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống” [14]. Khoản 30 điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2024 cũng tiếp tục quy định “30. Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do pháp nhân, cá nhân, hộ gia 13 đình tự nguyện thành lập dưới hình thức Hợp tác xã để thực hiện một hoặc một số hoạt động Ngân hàng theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”[14].
Dựa trên những khái niệm đã nêu, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được coi là một tổ chức tài chính hoạt động theo hình thức "tương hỗ". Quỹ này huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi từ các thành viên và cho vay lại chính cho những thành viên đó. Mục tiêu của Quỹ là hỗ trợ các thành viên có đặc điểm tương đồng về nơi cư trú, nghề nghiệp, nhằm giúp họ thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả. Thành viên QTDND là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định và tán thành Điều lệ, tự nguyện tham gia góp vốn thành lập QTDND.
Thành viên là một khái niệm pháp lý gắn chặt, đặc trưng và thể hiện bản chất mô hình hoạt động của QTDND. Hoạt động của QTDND chủ yếu xoay quanh và nhằm mục đích phục vụ thành viên của mình. Khác với khách hàng của các tổ chức tín dụng khác, thành viên của QTDND vừa là khách hàng (có thể vay vốn hoặc gửi tiết kiệm) vừa là cổ đông của QTDND. Điều này được thể hiện qua việc thành viên góp vốn vào QTDND, bao gồm vốn góp xác lập tư cách thành viên và vốn góp thường niên (nay là vốn góp bổ sung).
Theo quy định hiện hành, hoạt động cho vay của QTDND chủ yếu nhằm mục đích hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, giúp họ thực hiện hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống. Ngoài ra, QTDND cũng có thể cho vay một số thành viên khác, như các tổ chức hoặc cá nhân không phải là thành viên nhưng có tiền gửi tại quỹ, dựa trên bảo đảm bằng số tiền gửi do chính QTDND phát hành, cũng như cho các hộ nghèo không phải là thành viên nhưng có đăng ký hộ khẩu và thường trú trong khu vực hoạt động của QTDND. Dựa theo quy định và thực tế hoạt động, các QTDND chủ yếu huy động và cho vay đối với các thành viên của mình. Điều này cho thấy hoạt động của QTDND phụ thuộc rất lớn vào quy mô, số lượng và chất lượng của các thành viên.
Do đó, có thể khẳng định rằng thành viên là trung tâm trong 14 mọi hoạt động của QTDND. Để phát triển QTDND một cách bền vững, cần phải tập trung vào việc phát triển bền vững hệ thống thành viên của Quỹ [12]. Như vậy, bản chất của QTDND là một hình thức tổ chức tín dụng Hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc của Hợp tác xã và tuân thủ quy định của Luật Hợp tác xã cũng như Luật các TCTD. QTDND được thành lập và hoạt động trong các địa giới hành chính cụ thể (như xã, phường, thị trấn hoặc liên xã, phường, thị trấn), có hạch toán độc lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động.
Mục tiêu chính của QTDND là tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, giúp họ thực hiện hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống. QTDND được coi là một liên minh của người dân, nhằm cải thiện đời sống thông qua việc cung cấp dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý. Lợi nhuận mà QTDND tạo ra sẽ được trả lại cho các thành viên thông qua việc giảm phí, tăng lãi suất tiết kiệm và hạ lãi suất cho vay. Đây chính là bản chất của sự “tương trợ” và là sứ mệnh hoạt động của QTDND, giúp nó nổi bật so với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường.
Hệ thống QTDND là một thể thống nhất, bao gồm các QTDND, trong đó mỗi QTDND là một đơn vị tự chủ, có tư cách pháp nhân và hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Đồng thời, các QTDND này liên kết với nhau để phối hợp hoạt động, nhằm mục tiêu tương trợ lẫn nhau, đảm bảo an toàn và phát triển không chỉ cho từng QTDND mà còn cho toàn bộ hệ thống. Ở Việt Nam, năm 1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ "Ðề án thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)" ở Việt Nam và ngày 27-7-1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 390/TTg cho phép triển khai đề án thí điểm thành lập Hệ thống QTDND. Ðây là một trong những bước đi đầu tiên cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Ðảng, Nhà nước đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi thực tiễn ở nông thôn.
Sau gần 20 năm triển khai, đến nay đã hình thành và phát triển mô hình QTDND - một loại 15 hình kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng trên địa bàn nông thôn. Sau gần 30 năm hình thành và phát triển, hệ thống QTDND đã khẳng định được vị thế và vai trò của mô hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế cũng như hệ thống tài chính và ngân hàng. Các QTDND đã không ngừng phát triển và tận dụng nguồn vốn tại chỗ, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống của các thành viên, đồng thời thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn. Hoạt động của hệ thống QTDND đã chứng minh chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển loại hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng.
Những kết quả đạt được trong những năm qua cho thấy QTDND là hình thức tổ chức tín dụng hợp tác phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội cũng như vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của hệ thống QTDND cũng bộc lộ một số hạn chế cần phải được khắc phục một cách khẩn trương để đảm bảo phát triển an toàn và hiệu quả trong giai đoạn tới. Cụ thể: Các QTDND được thành lập chủ yếu với mục tiêu tương trợ lẫn nhau, phát huy sức mạnh tập thể để giúp thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống. Tuy nhiên, một số QTDND chưa thực sự bám sát mục tiêu này.
Một số QTDND có biểu hiện chạy theo động cơ kinh doanh thuần túy, không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng an toàn, dẫn đến tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động và ảnh hưởng đến sự an toàn của toàn hệ thống. Nhiều QTDND vẫn còn gặp khó khăn với cơ sở vật chất nghèo nàn, vốn tự có hạn chế, và trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Họ thường chỉ thực hiện các khoản vay nhỏ, trong khi chi phí hoạt động lại cao, điều này hạn chế khả năng tự tích lũy tài chính và mở rộng quy mô phát triển một cách an toàn và bền vững. Hơn nữa, các nghiệp vụ hiện tại chủ yếu chỉ tập trung vào huy động và cho vay; việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng còn 16 rất hạn chế, khiến khả năng mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ, tăng thu nhập, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh với các loại hình tổ chức tín dụng khác còn yếu.
Đây là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ thống QTDND. Thời gian qua mặc dù công tác đào tạo được quan tâm nhưng trình độ của một số cán bộ QTDND vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo quản lý vận hành QTDND phát triển an toàn, bền vững. Bên cạnh đó, khả năng thu hút nguồn nhân lực có trình độ và duy trì đội ngũ cán bộ, nhân viên có năng lực nghiệp vụ QTDND thành thạo còn rất hạn chế. Tổ chức liên kết phát triển hệ thống đã được hình thành, nhưng chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả, thiếu sự hỗ trợ tích cực cho các QTDND cơ sở trong quá trình ổn định và phát triển.
Các thiết chế về tổ chức liên kết, đặc biệt trong các lĩnh vực thông tin, kiểm soát nội bộ và đảm bảo an toàn, vẫn chưa được hoàn thiện.