Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN 1. Khái niệm án lệ và áp dụng án lệ LLL Khái niệm án lệ Trong tiếng Anh, thuật ngữ “precedent” được hiểu là an lê, thuật ngữ nay phat sinh từ hệ thong thông luật (Common law) va cho đến nay, đã có rat nhiều quan niêm giải thích v án lệ Thứ nhất, án lệ được tuểu 1a những phán quyết (Judgment/decision- nghị quyết xét xử) của Tòa án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc (lotemational Court of Justice). Ở đây khái niệm “ban án" (Nghỉ quyết xét xử) nêu ra tại Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế sẽ được hiểu là những phán. quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong việc xét xử những vu việc tranh chấp giữa các quốc gia theo quy định của Biéu 34 va 35 Quy chế Tòa án quốc tế.
Thứ hai, khải niệm án lệ hiểu cũng có thé bao gồm cả những kết luận. Mặc dù vềnội hàm của Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế được hiểu chi bao gồm những phán quyết có tinh rang buộc về pháp lý ma không ‘bao gồm những kết luận tư van, tức là những khuyến nghị vé mốt van dé pháp lý ma Tòa án được yêu cầu phãi đưa ra quan điểm Xét vé ý nghĩa và giá tr của những kết luận tự vẫn, thể hiện qua những đóng góp của chúng vào sự phát triển của hệ thông luật pháp quốc tế nói chung, có thể xem những kết luôn tư vẫn này 1â một dang “án lệ” hiểu theo nghĩa rộng, Ở cách hiểu nảy, các bản “kết luận. tư vấn” có tinh chất giống như các bản án của Toa, chúng dé cập đến một nội dụng pháp lý cụ thể vả làm sảng tö nội dung của chúng, giúp cho việc thực thí và tuân thũ pháp luật quốc tế mốt cách thống nhất va đúng đắn Một số các kết luận tư vẫn của Tòa có giá trị thực tiễn rất lớn, bởi chúng khẳng định. “nguyên tắc jus cogen” của luật quốc té, xác định nội ham pháp lý cia những quy pham pháp luật quốc tế Do đó, xét ở góc đô nay, các kết luận tư van có thể xét như một dạng "án lệ đặc biệt 10 “Thứ ba, tuy thuật ngữ “án lệ" được quy định tai Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế, nhưng điều đó không có nghĩa lả Tòa chỉ viện dẫn những án lệ của chính minh ma có thể viên dẫn tới những bản án của các cơ quan tai phan quốc tế khác.
"Án lệ" do đó có thể được hiểu 1a thuật ngữ pháp lý chỉ thực tiễn xét xử của các thiết chế tai phán quốc té Theo cách hiểu nảy, khái niệm. "án lệ" sẽ không chỉ đừng lai trong phạm vi những bản án đã được Téa án Công lý quốc tế sét xiv ma còn có thé bao gồm các phản quyết trong tải do kết quả của việc lựa chon phương thức trong tai tw nguyện hoặc bắt buộc. Những phán quyết của các cơ quan tải phán quốc tế khác trong trường hợp này đã có những đóng góp nhất định đến sự phát triển của luật quốc tế, đặc biệt khi chúng được viên dẫn trong các vụ tranh chấp sau đó hoặc trong các công trình nghiên cứu về luật quốc tế cũng như được sử dung bởi Uy ban Pháp luật quốc. tế của Liên hợp quốc.
Chẳng hạn phán quyết của Ủy ban Trọng tải quốc tế trong vụ Alabama Claims 1898 cỏ ý nghĩa mỡ đường cho việc ap dung rộng tãi việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hỏa bình mà cu thể lả phương thức trọng tai va toa án quốc tế. Phan quyết của trong tải Max Huber trong vụ Las Palmas đã đóng vai trò to lớn trong việc làm rõ van để chủ quyền lãnh thé và phương thức chiếm hữu lãnh thé hợp pháp trong luật quốc tế hiện đại, sau đó được viện dân trong rất nhiều vụ quyết định giải quyết tranh chap của Tòa có liên quan đến van để tranh chap lãnh thé. ‘Nhu vậy, trong khoa học luật quốc tế, khái niềm “anl nên được hiểu, theo nghĩa rộng chỉ cho tắt cả những phán quyét, kết luận tư vẫn của các cơ quan tải phán quốc té, trong đó trước tiên và chủ yéu là của Tòa án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc Theo giáo sử luật dân sự nỗi tiéng G.Comu người Pháp định ngbifa an lệ "là một tông thé được néu trong các phán quyét trong quá trinh thực thi iuật' "pháp (thất là giải thích luật rong trường hop guy đinh của huật không rổ rằng) ‘ode tạo ra pháp luật (trong trường hop cẩn bé sung hoặc thay thé một quy định) lì Tại Việt Nam, quan niệm về án lê đã zuất hiện từ lâu va có thể liệt kế một số quan niệm như. Vũ Văn Mẫu cho ring: “Án iệ la đường lỗi giải thích và áp dung Iuat pháp của các tòa án về một điễm pháp if da được coi nine thành một lệ khiễn các thâm phảm có thé noi theo đó mà xét xử trong các trường hợp tương tư“ - Theo Từ điển Luật học thi án lệ được hiểu là: “Ben án đã huyện hoặc một sự giải thích, áp chng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ số đã các Thâm phẩm sau đó có thé áp đụng trong các trường hop tương te? Ngoài ra, còn khá nhiễu quan niệm về án lệ khác được trình bay trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý khác nhau, song đó chỉ là quan niêm của các nhà nghiên cửu hoặc hoạt đông thực tiễn và là quan niệm về mặt khoa học.
Còn quan niệm chính thức vẻ án lê được ghi nhận trong pháp luật nước ta là quan niệm được trình bay trong Nghĩ quyết số 03/2015/NQ-HĐTP do Hồi đồng Thấm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 28/10/2015 vẻ quy trình lựa chon, công bé va ap dụng án lê (có hiệu lực ngày 16/12/2015) thì “Án lệ iiững lập luận, phản quyết trong bản ám, quyết đựnh đi có hiệu lực pháp luật của Téa án về một vụ việc cu thé được Hội đông thẫm phán Tòa án nhân dân tôi cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bồ là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp đụng trong xét xứ Quy định nảy cho thây, ở nước ta, án lệ chủ yếu được sử dụng để giải thích pháp Iuét thành văn nhằm hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử. Nói một cách cụ thể là án lệ được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luât còn có cách hiểu khác nhau, giải thích các van dé, sự kiên pháp lý, chi ra nguyên tắc, đường lối xử lý va quy pham pháp luật cén áp dụng trong một vụ việc cụ thể. Vì thể, khi luật thành văn thay đổi thì đương nhiên án lệ giải thích luật 46 sẽ không được áp dụng và phải bi hủy bô, 1 Vi Vin Mu Pap bảnhôngkhảo tp 1, ii Gin 1974, 108 2 1 Bộ Rep, Vin hot học pup W, in tho, Tờ in Bính oi Neb Tepip,w là Như vay, quy định nảy cũng cho thay ở nước ta, văn bản quy phạm. pháp luật hay luật thành văn vẫn la nguồn cơ bản, chủ yêu va quan trọng nhất của pháp luật.
Án lệ, mặc di đã được thừa nhân là nguén chính thức cia pháp luật và trong thời gian có hiệu lực thì có giá trị bất buộc Thẩm phán va Hội thẩm phải nghiên cửu, ap dung để giải quyết các vụ việc tương tự, song chủ yêu được sử dụng, 1ä nguồn thứ yêu, nguồn bé trợ cho pháp luật thành văn. Mặc dit còn có những quan điểm khác nhau vẻ "án lệ”, nhưng đều thống nhất ở những điểm sau: Thứ niất, ân lệ trước hết là ban án, quyết định của Tòa án “Ti hai, không phối toàn bộ ban án, quyết định của Tòa án déu có giá trị an lệ mã chỉ những ban án, quyết định chứa đựng những van dé vẻ giải thích ‘va áp dụng pháp luật từ đó có thể rút ra nguyên tắc chung để áp dụng cho những vụ việc tương tự. Tính tiên lê nay khác nhau ở từng hệ théng pháp luật. Đối với hệ thông pháp luật Civil law thi tién lệ nay chi có sự rằng buộc về mat tam lý.
Còn với các nước theo hệ thông Common law thi tinh tiên lệ này có hiệu lực pháp lý bat buộc. Do đó, Tòa án cấp dưới xét xử vu viếc sau bắt buộc phải áp dụng giải pháp của các Tòa an cắp trên đã xét xử vụ việc trước tương tự: Đặc biệt là bản án, quyết định của Tòa án tối cao trong cùng một hệ thing Thứ ba ban án, quyết định có gia trị án lệ phải là cơ sỡ cho Tòa án cấp đưới vận dụng khi xét xử các vụ án tương tự về sau. Cơ sở nay có thể ‘mang tính chất bất buộc hoặc mang tinh chất tham khảo. Tinh tương tự ở đây được hiểu lả tương tư nhau vẻ tinh tiết, sự kiện cơ bản va tương tự về van để.
Hệ thống pháp luật Việt Nam được đánh giá là có nhiễu đặc điểm. tương đồng với hé thống pháp luật Civil law. Điều này được thể hiện thông đùa quan điển vệ việc'š5y:dụnng về áp động an lệ ở Viết Nami 1i nay: Laat tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã chính thức thửa nhân án lệ va vai trỏ của Tòa án trong việc phát triển án lệ. Theo đó, Hội đồng Tham phản Tòa án.
13 nhân dân tôi cao có nhiệm vụ lựa chon quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Tham phán Tòa án nhân dan tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực. pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ ‘va công bổ án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. quyền lực nha nước, được thực hiện bởi cơ quan nha nước có thẩm quy: nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nha nước trao quyên, nhằm cả biệt hoa quy pham pháp luật vao các trường hop cu thé, đối với ca nhân, tổ chức cụ thể. Ap dụng pháp luật được tiền hank trong các trường hợp sau: (1) Khi xảy ra tranh chap giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyển va ngiĩa vụ ma tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà.