Luận án: Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ - Nguyễn Xuân Hồng

Nghiên cứu so sánh ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt Nam và Mỹ. Phân tích đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận, văn hóa và tư duy qua các diễn ngôn.

2020

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt Nam và Mỹ

Ngôn ngữ học tri nhận xem ẩn dụ ý niệm như công cụ tư duy nền tảng. Diễn ngôn chính trị vận dụng triệt để cơ chế này nhằm truyền tải thông điệp quyền lực. Chính khách không chỉ mô tả thực tế khách quan. Họ chủ động tái cấu trúc hiện thực theo mục tiêu định trước. Các khái niệm chính trị trừu tượng thường khó nắm bắt trực tiếp. Do đó, người nói sử dụng các miền nguồn quen thuộc để biểu đạt. Quá trình ánh xạ khái niệm tạo nên sự đồng thuận xã hội nhanh chóng. Nghiên cứu so sánh diễn ngôn chính trị Việt Nam và Mỹ làm sáng tỏ các mô hình tri nhận cốt lõi. Cả hai hệ thống đều khai thác kinh nghiệm thể nghiệm của con người. Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử và thể chế chính trị tạo nên những sắc thái riêng. Văn hóa phương Đông ưu tiên tính tập thể và trật tự gia đình. Ngược lại, văn hóa phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân và sự cạnh tranh. Việc khảo sát giúp làm rõ bản chất ngôn ngữ quyền lực đương đại.

1.1. Bản chất của ẩn dụ ý niệm trong giao tiếp chính trị

Ẩn dụ ý niệm không đơn thuần là biện pháp tu từ trang trí văn bản. Lý thuyết của Lakoff và Johnson chứng minh ẩn dụ chi phối suy nghĩ và hành động thường nhật. Trong giao tiếp chính trị, ẩn dụ đóng vai trò như bộ lọc nhận thức. Người phát ngôn kết nối miền nguồn cụ thể với miền đích trừu tượng. Ví dụ, khái niệm quốc gia được hình dung như một cơ thể sống hoặc ngôi nhà chung. Cách đóng khung ý niệm này định hướng cách quần chúng đánh giá sự kiện thời sự. Nhờ tính trực quan, thông điệp chính trị trở nên dễ hiểu và giàu sức thuyết phục. Cơ chế ánh xạ giúp che giấu các khía cạnh bất lợi và nhấn mạnh điểm tích cực.

1.2. Đặc trưng diễn ngôn chính trị tại Việt Nam và Hoa Kỳ

Diễn ngôn chính trị tại mỗi quốc gia chịu sự quy định của hệ tư tưởng và văn hóa. Tại Việt Nam, diễn ngôn mang tính định hướng cao và gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Ngôn từ thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân, kỷ cương và phát triển bền vững. Tại Hoa Kỳ, diễn ngôn chính trị mang tính tranh biện đa chiều và đề cao sự cạnh tranh giữa các đảng phái. Các bài phát biểu của tổng thống Mỹ thường tập trung vào tự do cá nhân, cơ hội kinh tế và vai trò lãnh đạo toàn cầu. Sự khác biệt thể chế dẫn đến việc lựa chọn các hệ thống ẩn dụ đặc thù để thu hút cử tri và quần chúng nhân dân.

II. Phân tích đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt Mỹ

Khảo sát dữ liệu diễn ngôn chính trị Việt Nam và Mỹ cho thấy sự phân bổ đa dạng của các miền nguồn. Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng tần suất cao các miền nguồn như CON NGƯỜI, HÀNH TRÌNH và XÂY DỰNG. Đây là những phạm trù xuất phát từ kinh nghiệm thể nghiệm phổ quát của nhân loại. Quốc gia thường được ý niệm hóa như một con người có sức khỏe, hành động và trách nhiệm. Sự phát triển kinh tế được miêu tả như một cuộc hành trình vượt qua chướng ngại vật. Dù vậy, mức độ ưu tiên và cách triển khai chi tiết giữa hai bên có sự khác biệt rõ rệt. Tiếng Việt thể hiện xu hướng sử dụng đậm nét miền nguồn GIA ĐÌNH, BỆNH TẬT và THỰC VẬT. Ngược lại, tiếng Anh Mỹ ưa chuộng miền nguồn CHIẾN TRANH, THỂ THAO và ĐỘNG VẬT. Sự phân hóa này bắt nguồn từ truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước đối lập với văn hóa thương nghiệp phương Tây. Các khác biệt này định hình phong cách hùng biện đặc thù của lãnh đạo mỗi nước.

2.1. Điểm tương đồng trong mô hình tri nhận phổ niệm

Tính phổ niệm trong tư duy con người tạo nên những điểm tương đồng sâu sắc giữa hai diễn ngôn. Mô hình "Quốc gia là một con người" xuất hiện dày đặc trong cả văn kiện Việt Nam và diễn ngôn tổng thống Mỹ. Các nước bang giao được nhìn nhận như những cá nhân tương tác xã hội. Bên cạnh đó, mô hình "Phát triển là một hành trình" phản ánh khát vọng tiến bộ chung. Lãnh đạo hai nước đều đóng vai trò người dẫn đường đưa đất nước vượt qua thử thách. Khái niệm xây dựng cơ đồ đất nước cũng được đồng nhất với việc kiến thiết một công trình kiến trúc vững chắc. Những tương đồng này bắt nguồn từ trải nghiệm thể chất và nhận thức chung của loài người.

2.2. Điểm dị biệt bắt nguồn từ văn hóa và thể chế

Sự khác biệt phản ánh đậm nét căn tính văn hóa và bối cảnh chính trị xã hội. Diễn ngôn chính trị Việt Nam coi đất nước như một "Đại gia đình", nhấn mạnh tình đồng bào và nghĩa vụ hiếu thảo. Các tiêu cực xã hội như tham nhũng thường được ý niệm hóa thành "Căn bệnh" cần chữa trị tận gốc. Ngược lại, chính khách Mỹ thường dùng ẩn dụ "Chiến tranh" và "Trò chơi thể thao" để miêu tả các chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Cạnh tranh bầu cử được ví như trận đấu bóng bầu dục hay cuộc đua đường trường. Diễn ngôn Mỹ đề cao tinh thần tiên phong, sự cạnh tranh quyết liệt và việc khẳng định sức mạnh vị thế cá nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị đòi hỏi sự kết hợp đa phương pháp. Cơ sở lý thuyết vững chắc bao gồm ngôn ngữ học tri nhận và phân tích diễn ngôn phê phán (CDA). Nhà nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết của Kövecses để xác định các ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích. Bốn trường hợp nhận thức phổ quát của Kövecses giúp phân loại ngữ liệu một cách hệ thống. Quy trình bắt đầu từ việc thu thập văn bản chính trị chính thống từ hai quốc gia. Các bài phát biểu nhậm chức, thông điệp liên bang và báo cáo đại hội đại biểu toàn quốc là nguồn ngữ liệu tiêu chuẩn. Tiếp theo, thủ pháp nhận diện ẩn dụ MIP hoặc MIPVU được áp dụng để xác định các biểu thức ẩn dụ. Nhà phân tích tiến hành thống kê tần suất xuất hiện và đối chiếu ngữ cảnh văn hóa. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan và khoa học cho toàn bộ công trình. Dữ liệu định lượng kết hợp với phân tích định tính tạo nên bức tranh toàn diện về chiến lược ngôn từ.

3.1. Ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận của Kövecses

Lý thuyết của Zoltán Kövecses cung cấp khung phân tích đắc lực cho việc nghiên cứu biến thể văn hóa của ẩn dụ. Mô hình này làm rõ cách các nền văn hóa khác nhau lựa chọn miền nguồn cho cùng một miền đích. Bốn trường hợp tương tác giữa miền nguồn và miền đích đóng vai trò kim chỉ nam phân loại. Trường hợp nhiều miền nguồn cùng biểu đạt một miền đích chính trị giúp bộc lộ đa chiều bản chất sự vật. Ngược lại, một miền nguồn duy nhất ánh xạ sang nhiều miền đích cho thấy tính bao quát của tư duy bản địa. Khung lý thuyết này giúp giải mã logic tư duy ẩn sau các phát ngôn chính trị phức tạp.

3.2. Quy trình phân tích diễn ngôn phê phán và nhận diện ẩn dụ

Phân tích diễn ngôn phê phán vạch trần mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ, quyền lực và hệ tư tưởng. Quy trình nghiên cứu kết hợp thủ pháp phân tích ngữ liệu với phương pháp nhận diện ẩn dụ chuẩn hóa. Trước hết, nhà nghiên cứu xác định nghĩa ngữ cảnh của từ ngữ trong văn bản. Sau đó, nghĩa này được so sánh với nghĩa cơ bản và cụ thể hơn của chính từ đó. Nếu có sự tương phản và người đọc hiểu được nghĩa ngữ cảnh qua phép so sánh, biểu thức ẩn dụ được xác lập. Kết quả định lượng được đối chiếu với bối cảnh kinh tế xã hội để làm sáng tỏ ý đồ thao túng diễn ngôn của chính khách.

IV. Ý nghĩa ứng dụng của ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị

Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ ý niệm mang lại nhiều giá trị thực tiễn to lớn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương thức kiến tạo quyền lực qua ngôn từ. Các cơ quan ngoại giao có thể ứng dụng kết quả này để nâng cao hiệu quả đối thoại quốc tế. Việc thấu hiểu mô hình tri nhận của đối tác giúp hạn chế xung đột văn hóa trong đàm phán song phương. Trong lĩnh vực biên phiên dịch, nghiên cứu đưa ra các chiến lược chuyển ngữ chính xác cho các văn bản chính trị phức tạp. Người dịch không chỉ chuyển đổi từ ngữ bề mặt mà còn chuyển tải chuẩn xác mô hình tư duy nguyên bản. Ngoài ra, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác giảng dạy ngôn ngữ học ứng dụng và truyền thông chính trị. Người tiếp nhận thông tin được trang bị tư duy phản biện để nhận diện các thủ pháp thuyết phục ngầm. Tri thức này góp phần nâng cao năng lực giải mã văn bản truyền thông hiện đại. Tổng thể nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho ngành ngôn ngữ học đối chiếu.

4.1. Nâng cao hiệu quả giao tiếp ngoại giao và biên phiên dịch

Trong hoạt động đối ngoại, việc nắm vững hệ thống ẩn dụ ý niệm của đối tác là yếu tố then chốt. Cán bộ ngoại giao có thể lựa chọn phát ngôn phù hợp với khuôn mẫu tri nhận của người tiếp nhận. Điều này tạo dựng sự đồng cảm và nâng cao hiệu quả đàm phán. Đối với biên phiên dịch ngoại giao, việc dịch ẩn dụ đòi hỏi sự linh hoạt cao. Biên dịch viên cần quyết định giữ nguyên miền nguồn, thay thế bằng miền nguồn tương đương hoặc giải thích nghĩa tường minh. Việc dịch đúng ẩn dụ ý niệm bảo toàn thông điệp tư tưởng và giảm thiểu rủi ro hiểu lầm chính trị.

4.2. Phát triển tư duy phản biện đối với truyền thông đại chúng

Người đọc hiện đại đối mặt với lượng thông tin khổng lồ từ các phương tiện truyền thông. Hiểu biết về ẩn dụ ý niệm giúp giải mã các chiến lược đóng khung nhận thức của giới truyền thông. Khi nhận diện được miền nguồn được sử dụng, công chúng sẽ hiểu rõ thông điệp ngầm của người nói. Người tiếp nhận không còn bị dẫn dắt một chiều bởi các cảm xúc do ẩn dụ khơi gợi. Năng lực phản biện này thúc đẩy một xã hội thông tin lành mạnh và minh bạch hơn. Giáo dục ngôn ngữ học tri nhận do đó trở thành công cụ quan trọng trong kỷ nguyên số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/08/2026
Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị việt và mỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN 1. Nghiên cứu về ẩn dụ Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ. Aristotle (384-322 TCN), một bậc thầy triết học, là người đầu tiên nhắc đến ẩn dụ và trình bày nó như một phạm trù nghiên cứu. Aristotle đã xem ẩn dụ là hình thức chuyển tên gọi trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và hùng biện bằng phương thức chuyển tên gọi từ chủng sang loài, từ loài sang chủng, hoặc từ loài sang loài, hoặc chuyển dựa trên nguyên tắc tương suy (analogy).

Có thể nói rằng cách hình dung này là điểm khởi nguồn cho các quan niệm về ẩn dụ từ trước đến nay. về sau, các nhà nghiên cứu đã cụ thể hóa thêm quan niệm đó của Aristotle, đồng thời, những nghiên cứu mới về ẩn dụ đã xuất hiện, tập trung phát triển theo hai quan điểm chính: Quan điểm thay thế (Substitution view) và Quan điểm so sánh (Simile view). Quan điểm thay thế cho rằng biểu thức ẩn dụ luôn luôn được dùng thay cho biểu thức nghĩa đen nào đó tương đương với nó. Quan điểm so sánh xem nghĩa hình ảnh của ẩn dụ là nghĩa đen của sự so sánh tương ứng (simlie).

Ý nghĩa cùa ẩn dụ được xác định với sự so sánh tương ứng bằng nhau. Ví dụ: “X là Y” là ẩn dụ thì ý nghĩa của nỏ được đưa ra từ câu: “X là như Y.” Theo định nghĩa của từ điển Meưiam - Webster, “Ẩn dụ là đặc trưng của lời nói trong đó một từ hoặc cụm từ biểu thị một đối tượng hoặc ý tưởng nào đó được sử dụng để thay thế cho một đối tượng khác dựa vào sự tương tự hoặc tương suy giữa chúng.” Ý nghĩa của nó bắt nguồn từ thuật ngừ Hy Lạp “metapherein”, có nghĩa là chuyển giao, thay thế, thay đổi, biến đổi (Online Etymology Dictionary). 14 Theo Bain (1877), ẩn dụ là so sánh được hàm ẩn bởi chính sự sử dụng từ hoặc biểu ngữ v. Khi chúng ta xem xét những đặc điểm của ẩn dụ, các mặt ưu và nhược điểm cùa nó, chúng ta bị hạn chế bởi các khung của từ hoặc cụm từ.

Black (1962) cho rằng ẩn dụ là một lối nói dùng một biểu thức miêu tả để chuyển sang một đối tượng nào đó khác với đối tượng mà biểu thức này ứng dụng, nhưng tương tự với nó về một nét gì đó. Ket quả của việc đó cho ra các biểu thức ẩn dụ. Nhiều đại diện tiêu biểu khác như Wittgenstein (1953, 1969), Davidson (1984, 1978) v. đều có chung quan điểm khi cho rằng ẩn dụ thường được coi là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng hay giống nhau.

Lakoff & Johnson (1980) nhận xét cách tiếp cận truyền thống về ẩn dụ nêu trên chỉ đơn thuần là gắn ẩn dụ với chức năng chỉnh trang về mặt ngôn ngữ cho lời nói và ẩn dụ chỉ phục vụ như công cụ trang trí. Ẩn dụ được cho là chỉ thuộc về ngôn ngữ thơ ca, không liên quan đến tư duy của con người. Việt Nam cũng có lịch sử lâu dài nghiên cứu về ẩn dụ. Tiêu biểu là các tác giả như Nguyễn Lân (1966), Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 2005), Cù Đình Tú (1983, 2002), Nguyễn Thiện Giáp (1998, 2008, 2016), Đinh Trọng Lạc (1999), Nguyễn Thái Hòa (2005), Vũ Đức Nghiệu (2009), Hữu Đạt (2011) v.

Nhìn chung, các tác giả có chung quan điểm khi cho rằng ẩn dụ là hiện tượng ngôn ngừ lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa trên những tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng đó. Chẳng hạn, Nguyễn Lân (1966, tr.80) định nghĩa “Ần dụ cũng là một cách ví nhưng không cần dùng đến những tiếng để so sánh như: tựa, như, nhường, bang v.” Nguyễn Văn Tu (1976) cho rằng ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp. Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Đỗ Hữu Châu (1981, tr.

145) quan niệm về ẩn dụ như sau: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật, A vốn là tên gọi của X (tức X là nghĩa biểu vật chính của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X 15 để gọi Y (biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau.”; về sau ông cho rằng hiểu theo quan niệm thông dụng nhất, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau. Tương tự, Nguyễn Thái Hòa (2005) xem ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau. Nguyễn Thiện Giáp (1998, tr.162) xác định “Án dụ là sự chuyển đối tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau.”; về sau, bên cạnh việc thừa nhận những đặc điểm ngôn ngữ của ẩn dụ như một số tác giả khác, Nguyễn Thiện Giáp (2016, tr.49) còn cho rằng ẩn dụ là hiện tượng sử dụng có tính chất văn chương một hình thức ngôn ngữ và tác giả có đề cập đến loại ẩn dụ bổ sung liên quan đến sự chuyển đổi cảm giác.

Đinh Trọng Lạc (1999, tr.52) định nghĩa “Ần dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hay tưởng tượng ra), giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B tên gọi được chuyển sang dùng cho A.” Hữu Đạt (2011, tr.302) khẳng định “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra. Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản. Ẩn dụ thực chất là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc.” Như vậy, thành tựu nghiên cứu về ẩn dụ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học truyền thống như đã trình bày bên trên không phải là ít. Tuy nhiên, như đã nói, tất cả hầu như chỉ nhìn nhận ẩn dụ là đặc trưng của Ngôn ngữ học văn chương, là một biện pháp tu từ, là một phương thức phát triển nghĩa và đồng thời ẩn dụ phục vụ như một công cụ trang trí và chinh trang về mặt ngôn ngữ.

Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm Nhũng nghiên cứu về ADYN xuất hiện cùng với sự hình thành của Ngôn ngữ học tri nhận vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Công trình 16 Metaphors We Live By của Lakoff và Johnson (1980) đã đưa vấn đề ẩn dụ trong Ngôn ngữ học sang một bước ngoặt mới. Cụ thể, Lakoff và Johnson (1980, 2003, tr.8) quan niệm: “Ẩn dụ xuyên suốt đời sống của chúng ta và không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ mà còn cả tư duy và hành động. Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính ẩn dụ.

Bản chất của ẩn dụ là ở tư duy và cảm xúc về các hiện tượng thuộc loại này ẩn trong thuật ngữ của các hiện tượng khác.” Cũng theo LakoíT và Johnson (1980, 2003), ẩn dụ là công cụ thể hiện sự quan sát một kinh nghiệm nào đó thông qua một kinh nghiệm khác. Ẩn dụ phàn ánh một số tri nhận nhất định về thế giới xung quanh hoặc kinh nghiệm của con người về thế giới đó. Chẳng hạn, các khái niệm mang tính chất trừu tượng như tranh luận, chính trị, cuộc sống thường được diễn đạt thông qua các hiện tượng cụ thể như chiến tranh, tòa nhà, hành trình. Qua đó, giúp xác định được các ánh xạ cho tranh luận, chính trị, cuộc sống.

Ngoài ra, Lakoff và Johnson (1980, 2003) cho rằng ADYN là sự chuyển nghĩa hoặc là một quá trình ánh xạ cấu trúc và quan hệ nội tại của một miền nguồn sang một miền đích, mà theo đó miền nguồn góp phần cấu trúc nên miền đích, và miền đích được định dạng thông qua miền nguồn. Quá trình ánh xạ này có thể được biểu đạt thông qua biểu thức: “MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN” (TARGET DOMAIN IS SOURCE DOMAIN) hoặc “MIỀN ĐÍCH XEM NHƯ LÀ MIỀN NGUỒN” (TARGET DOMAIN AS SOURCE DOMAIN). Chẳng hạn, trong ADYN politics is a journey (chính trị là một cuộc hành trình) thì miền đích POLITICS (CHÍNH TRỊ) - một khái niệm trừu tượng được hiểu thông qua miền nguồn A JOURNEY (MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) - một khái niệm cụ thể. Dựa vào lý thuyết của khoa học tri nhận, Lý Toàn Thắng (2005, tr.25) khẳng định “ADYN là một sự chuyển di (transfer) hay một sự ánh xạ (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận đích.” Như vậy, ADYN về bản chất là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận, một cơ chế tri nhận với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc 17 làm sáng rõ hơn những ý niệm mới trên nền văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ.

Trên cơ sở nhận thức, cho là, thậm chí gán cho những đặc điểm giống nhau của đối tượng, ADYN được xem như việc thông hiểu đối tượng này thông qua một đối tượng khác. Ánh xạ (mapping), một hệ thống của các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích, đóng vai trò là thao tác phóng chiếu nhừng đặc trưng của miền nguồn sang miền đích trên cơ sở những quan hệ tương đồng trong nhận thức (những quan hệ này được xác lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm và tri giác của người bản ngữ), nhằm làm rõ hơn ý niệm của miền đích. Thông qua ánh xạ, chúng ta hiểu chính xác được ý niệm ở miền đích được hiểu như ý niệm ở miền nguồn. Ánh xạ là cái cấu thành nên một ADYN.

Chính vì thế, muốn hiểu được một ADYN, chúng ta phải hiểu được sự đồ chiếu của một cặp miền Nguồn - Đích. Ngoài ra, ADYN là một phạm trù về ý thức. ADYN được hiện thực hóa bằng các biểu thức ẩn dụ (metaphorical expressions). ADYN là ý niệm khái quát, còn biểu thức ẩn dụ là câu chữ cụ thể thực sự thể hiện các ý niệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Xuân Hồng (2020), Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
APA 7
Nguyễn, X. H. (2020). Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/an-du-y-niem-trong-dien-ngon-chinh-tri-viet-va-my/9387634877
IEEE
X. H. Nguyễn, "Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ," Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2020. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/an-du-y-niem-trong-dien-ngon-chinh-tri-viet-va-my/9387634877

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác