Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử là một hệ thống cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính và quản lý tài sản thông qua các thiết bị điện tử như máy tính và điện thoại di động.
Thay vì phải đến các chi nhánh truyền thống của ngân hàng, người dùng có thể thực hiện các hoạt động như kiểm tra số dư, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và sử dụng các dịch vụ khác một cách thuận tiện trực tuyến. Theo Toufaily và các cộng sự (2009), ngân hàng điện tử được định nghĩa là một hệ thống cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính và quản lý tài sản thông qua các phương tiện điện tử như máy tính và thiết bị di động. Vậy, bằng việc cung cấp đa phương tiện với chi phí thấp, mang tính phổ biến toàn cầu, các ngân hàng đã sử dụng các mạng điện tử và viễn thông để cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, cho phép cá nhân và tổ chức thực hiện các giao dịch tài chính và quản lý tài sản thông qua các công nghệ điện tử như máy tính và thiết bị di động (Aduda và Kingoo, 2012). Về mặt bản chất, NHĐT gồm các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa để từ đó cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Hiện nay, NHĐT tồn tại dưới hai hình thức là hình thức ngân hàng trực tuyến cung cấp 100% dịch vụ thông qua mạng internet và mô hình kết hợp giữa hệ thống NHTM truyền thống và điện tử hóa các dịch vụ truyền thống, nghĩa là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cũ trên những kênh cung cấp mới. Như vậy, ta có thể thấy rằng dịch vụ NHĐT là loại dịch vụ ngân hàng cho phép các giao dịch ngân hàng được thực hiện qua điện thoại hoặc máy tính thông qua internet thay vì phải đến quầy giao dịch như truyền thống. Nói cách khác, dịch vụ NHĐT là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Hay nói cách khác, loại hình dịch vụ này là một dạng của thương mại điện tử (e-commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
7 Như đã trình bày, dịch vụ NHĐT là một dạng của thương mại điện tử và nó được sử dụng phổ biến trong tất cả các ngành nghề của nền kinh tế trong và ngoài nước. Thẻ tín dụng điện tử Theo Ngân hàng Nhà nước tại Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 (Khoản 5, Điều 2): “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng tối đa được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán không sử dụng tiền mặt, cho phép người dùng chi tiêu mà không cần phải trực tiếp sử dụng tiền mặt trong tài khoản của họ. Người dùng có thể sử dụng thẻ tín dụng để mua sắm, thanh toán hóa đơn, và thực hiện các giao dịch tài chính khác.
Hạn mức chi tiêu của thẻ tín dụng được xác định bởi ngân hàng phát hành thẻ, dựa trên năng lực tài chính và khả năng trả nợ của người sử dụng. Người sử dụng thẻ tín dụng có thể chi tiêu trước và phải trả tiền sau, theo chu kỳ thanh toán quy định. Thông thường, khoảng thời gian giữa lần chi tiêu và lần phải trả tiền có thể dao động từ 30 đến 55 ngày, tùy thuộc vào chính sách của ngân hàng phát hành thẻ. Trong thời gian này, người sử dụng có thể thanh toán toàn bộ số tiền đã chi tiêu hoặc chỉ cần thanh toán một phần (tối thiểu được quy định) và chịu lãi suất phát sinh từ số tiền chưa thanh toán.
Hơn nữa, thẻ tín dụng còn mang lại các lợi ích bổ sung như tích điểm thưởng, bảo hiểm du lịch, bảo mật giao dịch và khả năng quản lý tài chính thông qua các dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Tuy nhiên, việc sử dụng thẻ tín dụng cần phải cân nhắc và quản lý chi tiêu chặt chẽ để tránh nợ nần và các vấn đề tài chính tiềm ẩn khác. Theo Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/06/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng: “Thẻ phi vật lý là thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất, tồn tại dưới dạng điện tử và hiển thị các thông tin trên thẻ theo quy định. Thẻ phi vật lý có thể được tổ chức phát hành thẻ in ra thẻ vật lý theo thỏa thuận giữa tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ”.
8 Giống như thẻ tín dụng truyền thống, thẻ tín dụng điện tử cung cấp cho chủ sở hữu hạn mức tín dụng, có nghĩa là họ có thể chi tiêu tối đa một số tiền nhất định trước khi thanh toán vào cuối chu kỳ thanh toán. Hơn nữa, các giao dịch thanh toán bằng thẻ điện tử sẽ có được nhiều ưu đãi và quà tặng hơn so với thẻ thông thường. Bản chất của thẻ tín dụng điện tử rất hấp dẫn khách hàng tiêu dùng, bởi vì nó giúp chủ thẻ tiêu dung có thể thanh toán số tiền này qua thẻ tín dụng mà không bị hạn chế bởi ngân sách và mang theo thẻ vật lý, các khoản thanh toán hàng tháng thường vượt quá số tiền có trong tài khoản của khách hàng tiêu dùng. Các khoản thanh toán và phí sẽ được chuyển sang tháng tiếp theo, và khách hàng tiêu dùng buộc phải trả tiền.
Phân loại thẻ tín dụng 2. Phân loại theo hạng thẻ Thẻ tín dụng hạng cơ bản: Thẻ tín dụng cơ bản là sự lựa chọn phổ biến cho những người muốn sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hàng hóa và dịch vụ hàng ngày một cách tiện lợi. Với hạn mức tín dụng trung bình và các khoản phí duy trì thấp, thẻ tín dụng cơ bản thường đánh giá cao về tính tiện lợi và dễ dàng trong việc đăng ký. Đây là sự lựa chọn lý tưởng cho những người chưa có kinh nghiệm sử dụng thẻ tín dụng và muốn bắt đầu với một sản phẩm đơn giản.
Thẻ tín dụng hạng vàng: Với hạn mức tín dụng cao hơn so với thẻ cơ bản, thẻ hạn vàng cung cấp thêm các dịch vụ bảo hiểm và ưu đãi đặc biệt như bảo vệ mua sắm và chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Những người sử dụng thẻ tín dụng hạng vàng thường có nhu cầu chi tiêu cao hơn và mong muốn những lợi ích bổ sung khi sử dụng thẻ tín dụng. Đây là lựa chọn phổ biến đối với những người có thu nhập trung bình đến cao và mong muốn sự tiện lợi trong việc quản lý tài chính cá nhân. Thẻ tín dụng hạng bạch kim: Thẻ tín dụng bạch kim là biểu tượng của sự sang trọng và tiện ích cao cấp.
Với hạn mức tín dụng cao và các dịch vụ như quản lý tài sản, hỗ trợ tài chính và các ưu đãi độc quyền, thẻ tín dụng bạch kim hướng đến những khách hàng có thu nhập cao và mong muốn sử dụng các dịch vụ tài chính cao cấp. Đây là sự lựa chọn phù hợp cho những người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ và tiện ích đẳng cấp nhất. 9 Thẻ tín dụng VIP: Thẻ tín dụng VIP là biểu tượng của sự tối cao và tiện ích tối đa. Được cấp cho các khách hàng VIP, thẻ tín dụng VIP đi kèm với các dịch vụ cao cấp như hỗ trợ tài chính toàn diện, chăm sóc khách hàng 24/7 và các ưu đãi đặc biệt như dịch vụ VIP và hỗ trợ đặc biệt.
Đây là lựa chọn tuyệt vời cho các doanh nhân thành đạt và nhân vật công đồng nổi tiếng. Phân loại theo công nghệ sản xuất Thẻ băng từ (Magnetic stripe) sử dụng dải từ để lưu trữ thông tin của chủ thẻ. Mặc dù dễ sử dụng và phổ biến trong quá khứ, công nghệ “magnetic stripe” đang dần lạc hậu do dễ bị sao chép thông tin bởi các thiết bị đọc thẻ đơn giản. Việc này khiến các ngân hàng và tổ chức thanh toán khuyến khích người dùng nâng cấp lên thẻ gắn chip để tăng cường tính bảo mật và ngăn ngừa các hành vi gian lận.
Thẻ gắn chip (Chip Card) là một trong những đột phá về công nghệ trong lĩnh vực thanh toán. Được trang bị một vi mạch tích hợp (chip) chứa các thông tin của chủ thẻ, thẻ gắn chip mang lại mức độ bảo mật cao hơn đáng kể so với các loại thẻ truyền thống khác. Con chip gắn trên thẻ không chỉ giúp mã hóa dữ liệu cá nhân của khách hàng mà còn ngăn chặn hiệu quả các hành vi gian lận và sao chép thông tin. Điều này làm cho thẻ gắn chip trở thành sự lựa chọn ưu tiên của nhiều ngân hàng và tổ chức thanh toán trên toàn cầu, đảm bảo tính an toàn cho các giao dịch thanh toán của người dùng.
Thẻ phi vật lý (thẻ điện tử): thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất nhưng vẫn chứa các thông tin trên thẻ quỵ định tại, được NHPH phát hành cho chủ thẻ để thanh toán qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử chấp nhận thẻ khác. Lợi ích của thẻ tín dụng điện tử Sự tiện lợi: thẻ tín dụng điện tử rất tiện lợi, đặc biệt là đối với khách hàng đi công tác hoặc du lịch nước ngoài có nhu cầu thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc nhu cầu tiền mặt ngay tức thì mà không cần mang theo tiền mặt bên người. Linh hoạt trong chỉ tiêu: Khách hàng đang cần mua một món hàng nhưng không có sẵn tiền hoặc không có đủ tiền trong tài khoản để mua hàng hóa, dịch vụ; với thẻ tín dụng điện tử thì khách hàng có thể thanh toán ngay lập tức qua điện tử và 10 được miễn phí, không bị tính lãi trong thời hạn nhất định (thông thường tối đa 55 ngày). Đơn giản hóa việc theo dõi chi tiêu và thanh toán: Hàng tháng, NHPH thẻ sẽ gửi bảng chi tiết các giao dịch khách hàng đã thực hiện dưới dạng sao kê bao gồm: số tiền giao dịch, thời điểm và địa điểm giao dịch, loại tiền giao dịch.
Vì vậy việc quản lý chỉ tiêu trở nên đơn giản và thuận tiện rất nhiều so với việc sử dụng tiền mặt.