Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương này luận án nêu những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án, đánh giá những nội dung các công trình đã đạt được, những gì chưa làm rõ và cơ sở lý thuyết nghiên cứu về bảo hộ QTG đối với CTMT. Chương 2: Cơ sở lý luận về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Chương này làm rõ những lý luận về bảo hộ QTG đối với CTMT bao gồm các khái niệm, đặc điểm. Lý giải về vai trò bảo hộ QGT đối với CTMT so với các hình thức bảo hộ khác. Lý giải các cơ sở của nguyên tắc cân bằng trong quá trình bảo hộ.
Chương 3: Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Chương 3 sẽ xác định phạm vi bảo hộ của QTG đối với CTMT trên hai nội dung: giới hạn về đối tượng bảo hộ và giới hạn quyền của các chủ thể. Chương 4: Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Nội dung chương này sẽ đưa ra khái niệm của thực thi, làm dụng bản quyền trong quá trình thực thi và thực tiễn thực thi, các yếu tố tác động lên quá trình thực thi QTG đối với CTMT từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi QTG đối với CTMT. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính 1. Các công trình trên thế giới Trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.09 thông qua ứng dụng các công nghệ như Internet, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn.số hóa tất cả thế giới thực thì hoạt động của các CTMT để lập trình các hoạt động công việc trên là không thể thiếu. Do vậy sử dụng các chính sách pháp lý để bảo hộ quyền SHTT của các CTMT được xem như là một trong những chính sách được ưu tiên hàng đầu của các quốc gia. Để khuyến nghị các nhà làm luật có những đạo luật điều chỉnh phù hợp, thúc đẩy thị trường CTMT các học giả, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đã không ngừng có những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT.
Đa số các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đều từ các nhà nghiên cứu của Mỹ, Anh nên NCS vẫn giữ nguyên thuật ngữ "bản quyền"10 trong một số đoạn tóm tắt lại. Trong đó những công trình tiêu biểu liên quan đến bảo hộ QTG đối với CTMT là: (1) Các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT là việc xác định những đối tượng, thành phần cấu tạo nào trong CTMT cần được bảo hộ QTG, và những gì không được QTG bảo hộ. Như vậy, các lệnh, thuật toán, lược đồ, ngôn ngữ lập trình, mã nguồn, mã máy, dữ liệu nội dung, giao diện người dùng là những bộ phận tạo nên CTMT nhưng không phải yếu tố nào cũng được bảo hộ bản quyền. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây đã chỉ ra và lý giải về cách xác định phạm vi bảo hộ QTG đối với CTMT: 9 Lữ Thành Long (2017), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là gì, Vnexpress, http://vnexpress.net/projects/cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-la-gi-3571618/index.html, 09/8/2017 10 Trong hệ thống Comon Law, thuật ngữ được sử dụng là copyright, dịch là bản quyền.
Trong hệ thống Civil Law thuật ngữ được sử dụng là author's right, nghĩa là quyền của tác giả. Không chỉ khác nhau ở việc sử dụng thuật ngữ, hai hệ thống luật này còn có sự khác biệt về đối tượng quyền hướng tới: đối với bản quyền hướng tới việc bảo hộ quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm, còn quyền tác giả thì lại hướng tới việc bảo hộ quyền của tác giả hơn. 13 Use and Expression: The Scope of Copyright Protection for Computer Programs (Sử dụng và Biểu hiện: Phạm vi bảo hộ bản quyền cho các chương trình máy tính) đăng trên tạp chí The John Marshall Journal of Information Technology & Privacy Law số 5 năm 1985 của Leslie Wharton cho rằng bước đầu tiên để xác định bản chất của sự diễn đạt trong một chương trình là thiết lập mối quan hệ giữa mã nguồn và mã máy. Mã máy như một bản sao của mã nguồn, là một thể loại bản dịch.
Nếu vì mục đích bảo hộ bản quyền thì mã máy - với tư cách là một bản sao của mã nguồn thì phần tử được bảo vệ trong mã máy phải là những yếu tố chung mà mã mà máy và mã nguồn đều có. Use and Expression: The Scope of Copyright Protection for Computer Programs, 5 Computer (Sử dụng và Biểu hiện: Phạm vi bảo hộ bản quyền cho các chương trình máy tính) trên tạp chí Washington and Lee Law Review số 43 tháng 1 năm 1986 của tác giả Susan A. Dunn xác định mã máy có thể được coi là một bản sao của chương trình nguồn cho các mục đích bản quyền và các phiên bản mã máy của chương trình không đáp ứng được kiểm tra chức năng giao tiếp do vậy không nên được bảo vệ theo luật bản quyền. Theo nghiên cứu này thì bảo vệ bản quyền không giới hạn trong từ ngữ và trình tự chính xác của mã nguồn.
Các biến, thủ tục, chương trình con và các phần tử lập trình khác nếu là sáng tạo nguyên gốc của tác giả thì có thể được bảo vệ trong cả mã nguồn và mã máy. An Analysis of the Scope of Copyright Protection for Application Programs (Một phân tích về phạm vi bảo hộ bản quyền đối với các chương trình ứng dụng) của Peter S. Menell tại tạp chí Berkeley Law năm 1988 chỉ ra rằng bảo vệ bản quyền cần mở rộng cho cả mã nguồn và mã đối tượng, dữ liệu được lưu trong bộ nhớ chỉ đọc (ROM), Chip bán dẫn, hoặc trên đĩa. Menell phân tích phạm vi bảo vệ pháp lý cho các giao diện máy tính là bảo vệ pháp lý cho màn hình hiển thị video vì tầm quan trọng của chế độ tương tác giữa máy tính và con người.
Determining the scope of copyright protection for computer/userfaces (Xác định phạm vi bảo vệ bản quyền cho giao diện máy tính, giao diện người dùng) của tác giả Janice M.Mueller đăng trên tạp chí The John Mashall Journal of Information of Teachnology and Privacy Law số 9 năm 1989 đã cố gắng làm rõ sự phân biệt giữa ý tưởng và sự diễn đạt của ý tưởng. Nguyên tắc lâu đời về bảo hộ bản quyền cho rằng bản quyền không bảo vệ ý tưởng, mà chỉ bảo vệ những biểu hiện của các ý tưởng. Khi áp dụng cho máy tính, vấn đề cần phải được phân định rõ là đặc tính biểu 14 hiện của giao diện có thể bảo hộ bản quyền, còn các chức năng của giao diện không thể được bảo hộ. “Computer Software and Intellectual Property” (Phần mềm máy tính và tài sản trí tuệ) của dự án OTA11 Project Staff vào tháng 3 năm 1990 kết luận rằng thông qua các vụ kiện, Tòa án cho rằng các CTMT cần bảo vệ mã nguồn, mã đối tượng, biểu đồ, vi mã và màn hình hiển thị nghe nhìn-được bảo vệ.
Qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thấy rằng việc xác định phạm vi bảo hộ của QTG có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi xâm phạm QTG đối với CTMT. Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu này tương đối nhiều, tuy nhiên ở Việt Nam chưa có công trình nào về phạm vi bảo hộ QTG đối với CTMT. Pháp luật Việt Nam hiện hành tại khoản 1 điều 22 Luật SHTT giới hạn chỉ bảo hộ 2 yếu tố của CTMT là mã nguồn và mã máy. Vậy sự giới hạn này đã đủ để bảo hộ quyền của các chủ thể? Có khuyến khích việc phát triển thị trường phần mềm tại Việt Nam? Vấn đề này NCS sẽ tiếp tục làm rõ trong nội dung chương 3 của luận án.
(2) Giới hạn bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Giới hạn bảo hộ QTG là việc sử dụng bất kỳ tác phẩm đã được bảo hộ bản quyền mà không cần phải xin phép hoặc trả tiền thù lao cho chủ sở hữu bản quyền đó. Chẳng hạn như bình luận, phê bình, nghiên cứu, giảng dạy. một tác phẩm có bản quyền. Việc sử dụng như vậy có thể được thực hiện mà không có sự cho phép của chủ bản quyền.
Nói cách khác, giới hạn bảo hộ là biện pháp chống lại những cáo buộc về vi phạm bản quyền. Nếu việc sử dụng của chủ thể đủ điều kiện để sử dụng hợp pháp, thì nó sẽ không được xem là vi phạm. Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này như sau: Fair use for Computer Programs and Other Copyrightable Works in Digital Form: The Implications of Sony, Galoob and Sega (Sử dụng hợp lý các CTMT và các tác phẩm có bản quyền khác dưới dạng số: Các hàm ý thông qua vụ kiện giữa của Sony, Galoob và Sega) của Pamela Samuelson đăng trên tạp chí Berkeley Law số 1 năm 1993. Pamela Samuelson cho rằng mục đích cuối cùng của bản quyền không chỉ là tối đa hóa các khoản thưởng tài chính cho chủ sở hữu bản quyền mà còn thúc đẩy việc sáng tạo và phổ biến các tác phẩm văn học và nghệ thuật nhằm nâng cao chất 11 Phòng Thẩm định công nghệ Quốc hội Mỹ (U.
Congress, Office of Technology Assessment) 15 lượng của công chúng tiếp cận kiến thức nên cần giới hạn lại quyền của tác giả, chủ sở hữu để đạt mục tiêu trên. The Collaborative Integrity of Open-Source Software (Sự toàn vẹn hợp tác của phần mềm nguồn mở) của Greg R. Vetter trong tạp chí UTAH Law Review số 2 năm 2004. Nghiên cứu phân tích bảo vệ pháp lý cho CTMT mã nguồn mở bằng cách so sánh với quyền bảo vệ sự toàn vẹn các tác phẩm truyền thống.
Sự so sánh tập trung vào quyền nhân thân, do đó người ta có thể phản đối việc thay đổi tác phẩm của mình, thậm chí sau khi chuyển giao bản quyền tác phẩm cho một chủ thể khác. Giấy phép mã nguồn mở là sự cho phép có điều kiện để sử dụng CTMT có bản quyền bao gồm mã nguồn đã có sẵn kèm theo trong CTMT và những điều khoản sử dụng CTMT không phải trả phí bản quyền. Những điều kiện này tạo cơ hội cho các nhà phát triển CTMT có thể sử dụng lại mã nguồn mà không cần phải xin phép hay trả tiền cho chủ sở hữu. The Right of Integrity in Software: An Economic Analysis (Quyền toàn vẹn trong phần mềm: Phân tích dưới góc độ kinh tế) của tác giả Yonatan Even, đăng trên tạp chí Santa Clara High Technology Law Journal, số 2 năm 2006.