Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG KÍCH THƯỚC CHO TRẺ 4-5 TUÔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH 1. Khái niệm về biểu tượng Theo triết học Mác-Lê Nin[34, 56]: Biểu tượng là hình ảnh về khách thể đã được trĩ giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một hoạt động nào đó được tái hiện nhớ lại. Như vậy biểu tượng cũng như cảm giác và tri giác là“ Hình ảnh chủ quan của thể giới khách quan" nhưng khác với cảm giác và tri giác, biểu tượng phản ánh khách thể một cách gián tiếp là hình ảnh của hình ảnh. Ngoài ra, bằng trởng tượng của con người những biểu tượng cũ có thể sáng tạo thành những biểu tượng mới.
Vậy theo Mác-Lê Nin thì cảm giác và biểu tượng là những hình thức khác nhau của giai đoạn này. Tóm lại, theo Mác-Lê Nin thì: “Từ những trị giác nhận thức cẩm tính chuyển sang nhận thức cao hơn đó là biểu tượng”. Các nhà tâm lý học cho rằng: “Biểu tượng là sản phẩm của quá trình ghỉ nhớ vờ tưởng tượng”. Biều tượng thường là “ấu những “Đoạn” nào đó của trí giác so với hình ảnh của tri giác không ổn định bằng, nó thường hay dao động (khi trực tiếp nhìn về người bạn thì hình ảnh của tri giác về người bạn rất ổn định, nhưng nếu nhớ lại thì biểu trợng về người bạn thường lờ mờ hơn).
Theo họ, biểu trợng là sự xâm nhập giữa tính trực quan vừa có tính khái quát, nên biểu tượng được coi như bước quá độ giữa hình tượng và khái niệm và là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính. Từ những quan niệm trên, ta rút ra được khái niệm: Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật và hiện tượng, nảy sinh ra trong óc khi sự vật hiện tượng đó không còn đang trực tiếp tác động vào giác quan ta như trước. Khái niệm về kich thivéc Kích thước là một khái niệm toán học dùng để chỉ độ lớn, độ dài, dung tích thé tích, diện tích,. của đối tượng.
Nói đến độ lớn là nói đến độ to nhỏ. Nói đến độ dài là nói đến chiều dài, chiều rộng, chiều cao. Nói đến diện tích là phần mà vật chiếm chỗ trên mặt phẳng. Nói đến thé tích là phần vật chiếm chế trong không gian 3 chiều.
Nói đến dung tích là phần vật chứa được hai vật khác. 14 Để phân biệt chiều dài, chiều rộng, chiều cao cần dựa vào các dấu hiệu sau: nếu vật đặc trưng bởi một đại lượng kích thước về độ đài thì khi đại lượng đó đặt vuông góc với mặt đất sẽ được gọi là chiều cao. Nếu đặt ở các tư thế khác được gọi là chiều dài. Nếu vật đặc trưng bởi hai đại lượng kích thước về độ dài thì hai đại lượng đó là chiều đài và chiều rộng, trong đó chiều dài là chiều có độ dài dài hơn.
Nếu vật đặc trưng bởi ba đại lượng kích thước về độ dài thì trong ba đại lượng đó, đại lượng nào vuông góc với mặt đất được gọi là chiều cao, hai đại lượng còn lại là chiều dai va chiều rộng. Việc xác định kích thước của một vật thể chỉ thực hiện trên cơ sở so sánh từ hai vật trở lên và được đo theo ba chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Nhờ có sự so sánh mà ta có thể hiểu được mối lên hệ các khái niệm: “to hơn, nhỏ hơn, rộng hơn, hẹp hơn hoặc bằng nhau”, ví dụ: Bạn Hoa cao hơn bạn Cúc tức là đã so sánh chiều cao của Hoa và Cúc. Sự thay đổi về các số đo (chiều dài, chiều rộng, chiều cao.) có thể tăng lên hoặc giảm xuống nhưng không thay đổi nội dung của khách thể, ví dụ: Cái bàn cao, cái bàn thấp: chỉ sự thay đồi về chiều cao của cái bàn, còn cái bàn vẫn là cái bàn.
Tùy theo kích thước của vật mà chứng ta nói vật đó to hay nhỏ, cao hay thấp, rộng hay hẹp, ví dụ: băng giấy màu xanh dài hơn băng giấy màu đỏ nhưng ngắn hơn so với băng giấy màu vàng. Tóm lại: Kích thước là khái niệm chỉ toàn bộ những đại lượng như chiều dài, chiều rộng, chiều cao và xác định độ lớn của một vật. Tùy theo kích thước của vật mà ta nói vật đó rộng hay hẹp, dài hay ngôn, cao hay thấp. Khái niện biểu trợng kích thước Biểu tượng kích thước là hình ảnh chỉ những đại lượng (chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn) của đối tượng còn lưu lại và được tái hiện trong trí óc của ta khi các đại lượng của đối tượng đó không còn được ta tri giác trực tiếp, không còn tác động vào các giác quan của ta như trước.
Hoạt động vẽ Đối với trẻ em, vẽ chính là sự thể hiện những biểu tượng, ấn tượng và suy nghĩ, tình cảm của trẻ, là sự giao tiếp, “nói chuyện” bằng các hình thức , phương tiện mang tính vật thé. Vẽ giứp trẻ suy nghĩ và hình thành các ý trởng sáng tạo. 15 Hoạt động vẽ là một trong những nội dung giáo dục thầm mỹ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, thông qua đó phát triển cảm giác, tri giác, phát triển khả năng cảm thụ và khả năng sáng tạo, đồng thời vẽ còn là sự biểu lộ thái độ, tình cảm yêu ghét của trẻ đối với thế giới xưng quanh. Trong cuộc sống hằng ngày, trẻ đã tiếp thu một lượng tri thức đáng kể về thế giới xung quanh do trẻ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy hoặc do người lớn kể lại qua các câu chuyện, phim ảnh.
Từ đó, thế giới biểu tượng của trẻ cũng phong phú dần lên và làm nảy sinh tính ham hiểu biết, hứng thú nhận thức, muốn khám phá những điều mới lạ. Xuất phát từ đó trẻ bắt đầu quan tâm đến các kiểu dáng, cách trang trí, thiết kế, bỗng kết hợp lại với nhau và được trẻ thể hiện qua tranh vẽ một cách tượng trưng. Những nét vẽ nghệch ngoạc, hồn nhiên, hết sức bình dị nhưng rất cần thiết trong quá trình hình thành khả năng cảm thụ cái đẹp và khả năng tr duy sáng tạo của trẻ. Từ những nét vẽ, bức tranh đó chính là cảm xúc, tình cảm là ước mơ mà trẻ đã thể hiện trên trang giấy.
Điều đó cho ta thấy hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo là hoạt động trẻ sử dụng hệ thống các biểu tượng mỹ thuật mang tính hình học không gian đa dạng đề thể hiện những cảm xúc và tình cảm chính bản thân trẻ. Cảm nhận mĩ thuật qua tranh vẽ vừa là sự cảm nhận cái đẹp của tác phẩm thông qua cảm giác va tri giác. Đồng thời vừa là quá trình tiếp nhận vào bên trong của những cảm xúc phán đoán. Như vậy, ta có thể nói rằng: Hoạt động vẽ là một hoạt động của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tính thân cho xã hội.
Thông qua hoạt động này các khả năng sớng tạo nghệ thuật của cá nhân được bộc lộ ra ngoài, được phát hiện bôi dưỡng và phái huy. Biện pháp đạy học Đề cập về đôi nét tình hình xác định phương pháp dạy học nói chung hiện nay. Trong thực tiễn dạy học, còn có hiện trọng chưa thống nhất hoặc lẫn lộn về sử dụng các khái niệm phương pháp, biện pháp dạy học. Tuy nhiên, quan niệm về xây dựng vận dụng cách thức dạy học quen dùng lâu nay thường thấy phương pháp dạy học là khái niệm bao trùm, được sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong giờ học.
Còn biện pháp là cấp độ cụ thể nằm trong phương pháp dạy học. 16 Biện pháp dạy học là gì? Từ “biện pháp” có nghĩa là “cách làm, cách thức tiễn hành giải quyết một một vấn đề cụ thể? [33,161]. Suy ra, có thể hiểu biện pháp dạy học là cách làm, cách thức giải quyết một vấn đề hay tình huống cụ thể trong dạy học. Bởi thế, NI Kudriashep quan niệm: “Phương pháp dạy học phần lớn được thực hiện thông qua các biện pháp dạy học cụ thể mà giáo viên sử dụng.
Biện pháp dạy học là các chỉ tiết của phương pháp, là các yếu tố, các bộ phận cấu thành hoặc các bước cụ thể trong công việc nhận thức này sinh ra khi vận dụng một phương pháp nhất định” [32. Hay nói cách khác, biện pháp dạy học là đưa ra những cách làm, cách giải quyết một vấn đề nào đó để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của vấn đề đó đưa ra, nhưng để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ đó thì cần có những biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề cần được giải quyết một cách có hiệu quả. Tóm lại, từ những cơ sở đã nêu trên chúng tôi có thê đưa ra khái niệm: Biện pháp dạy học là một bộ phận của phương pháp là t hợp cách thúc t chúc hoạt động của trẻ trong quá trình giáo dục guúp trẻ lĩnh hội những kiến thúc, kỹ năng — kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển các năng lực khác. Biện pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động vẽ Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi đã có khả năng phân biệt được các chiều đo kích thước của các vật như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và đã nhận biết sự khác biệt về kích thước của 2-3 vật có độ chênh lệch nhỏ.
Va dé giúp trẻ lĩnh hội những kiến thức, phát triển sự tri giác kích thước một cách chuẩn xác, xác định chính xác hơn mối quan hệ kích thước giữa hai vật thì người giáo viên cần phải có kiến thức vững vàng đề nghiên cứu, tìm tòi đưa ra một số biện pháp thích hợp và vận dụng chúng một cách khéo léo trong hoạt động vẽ đề phát triển khả năng nhận biết sự khác biệt về độ lớn, chiều dài, chiều rộng, chiều cao của hai đối tượng trên cơ sở ước lượng kích thước của chúng. Trẻ có thể so sánh độ lớn và từng chiều đo, kích thước của hai vật, biết diễn đạt mối quan hệ kích thước giữa hai vật bằng lời nói: to hơn — nhỏ hơn, có độ lớn bằng nhau, dài hơn — ngắn hơn.hay biết được mối quan hệ kích thước từ 3 đến 5 đối tượng như: nhỏ nhất — to hơn — to nhất. 17 Nhu vậy: Biện pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động vẽ là những tác động, cách làm của giáo viên nhằm giúp trẻ 4 — 5 tuổi xác định những đại lượng và mối quan hệ kích thước giữa các đổi tượng với nhau trên cơ sở khai thác lợi thế của hoạt động về ở tường mầm non 1.