phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xây dựng thƣ viện trƣờng phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác xây dựng thƣ viện các trƣờng THCS thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo tiêu chuẩn thƣ viện trƣờng phổ thông. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác xây dựng thƣ viện các trƣờng THCS thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo tiêu chuẩn thƣ viện trƣờng phổ thông. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG THƢ VIỆN TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý công tác xây dựng thƣ viện trƣờng phổ thông 1. Trên thế giới Cùng với sự tiến hóa của nhân loại, TV đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Theo các nguồn tài liệu sử học và khảo cổ học, TV đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện vào khoảng 2750 trƣớc công nguyên với tính chất là nơi tàng trữ mọi thứ văn tự thời cổ đại. TV Alexandria đƣợc xây dựng vào năm 332 trƣớc công nguyên bên bờ Địa Trung Hải đã đƣợc xem là TV công cộng đầu tiên trong lịch sử loài ngƣời.
Thƣ viện bắt đầu phát triển từ thế kỉ XV sau khi ngành in ấn đƣợc phát minh và với nhiều loại hình khác nhau nhƣ TV quốc gia, TV công cộng, TV khoa học. Ngay từ đầu thế kỉ 19, nhà TV học ngƣời Đức M.Srettinger (1772- 1851) đã chú ý nhiều đến công tác tổ chức TV qua tác phẩm “Hƣớng dẫn về việc QL toàn bộ công việc của ngƣời cán bộ TV”. Khoa học QL TV bắt đầu phát triển vào thế kỷ 20 và rõ nét nhất là ở Nga. Các nhà TV học Nga đã quan tâm đến công tác QL TV nhƣ QL bổ sung vốn tài liệu TV, tổ chức mục lục, tổ chức kho, …Trong đó phải kể đến những tác phẩm của Lê-nin và Crupxkaja về công tác TV với các khía cạnh QL đƣợc đề cập tới nhƣ việc tổ chức đọc cho nhân dân, kế hoạch hóa, tập trung hóa công tác TV.
Trong TV học Nga, I.Prumin (1907-1992) là ngƣời có vai trò đặc biệt trong việc soạn thảo vấn đề QL. Ông là tác giả giáo trình “Tổ chức công tác TV Xô Viết” xuất bản đầu tiên năm 1969, tái bản năm 1890 dƣới tên là “Công tác TV: tổ chức và QL”. Claus Ulrich Werner (Giám đốc TV Đại học tự do Berlin, ủy viên Hội 7 đồng xây dựng TV và lƣu trữ-Viện Tiêu chuẩn Đức) trong bài viết “TV với vai trò là không gian học tập và là nơi mọi ngƣời đều muốn đến” đã nghiên cứu về sự phát triển của TV trong thời đại hiện nay và đƣa ra ý kiến nhận định: “Một trong những điều kỳ lạ có thể nói về TV là chúng ta đang trải qua một thời kỳ phục hƣng trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Sự phục hƣng này liên quan đến việc chuyển đổi TV từ vai trò là nơi lƣu trữ sách trở thành không gian công cộng, một phòng khách của thành phố, một trung tâm học tập cho sinh viên, một “địa điểm thứ ba” và một cửa hàng phƣơng tiện truyền thông phi thƣơng mại.
Ở nhiều nƣớc Châu Âu, TV có các tên mới để mô tả sự thay đổi vai trò và chức năng của TV nhƣ: “Trung tâm thông tin”, “cửa hàng ý tƣởng”, “Trung tâm truyền thông”. Trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra rằng: “Ngày nay, ngƣời sử dụng TV thích đƣợc lựa chọn các không gian học tập và làm việc khác nhau, các kiểu ghế và bầu không khí khác nhau. TV ngày nay cần phải đƣợc thiết kế đảm bảo rằng TV có thể vận hành tốt và làm tròn các chức năng của nó: là nơi học tập, giao tiếp và nghiên cứu” [35] Công trình nghiên cứu của M. Lonsdale về “Tác động của TV trƣờng học tới kết quả học tập của sinh viên” đã cho thấy sự liên kết giữa TV trƣờng với kết quả học tập của sinh viên: Một TV tốt với đầy đủ nhân viên, các nguồn lực và kinh phí có thể làm cho kết quả học tập của sinh viên tốt lên; Chất lƣợng tài liệu có tác động đến việc học của sinh viên; Kết quả bài kiểm tra tăng lên khi việc sử dụng tăng lên; Mối quan hệ giữa giảng viên và cán bộ TV có tác động cụ thể đến việc học, là mối quan hệ giữa các học phần dự kiến, phát triển nguồn tài liệu và sự phát triển cá nhân [12] Các tác giả Robert Burgin, Pauletta Brown Bracy và Kathy Brown qua công trình nghiên cứu “Các TV trƣờng và trung tâm thông tin đã làm tăng kết quả học tập của HS ở North Carolina nhƣ thế nào”, dựa trên cơ sở dữ liệu của 2.138 TV trƣờng học và 2.529 cán bộ TV ở Bắc Carolina, Hoa Kỳ, do Sở Giáo dục Liên bang cung cấp, các tác giả đã khảo sát ngẫu nhiên 500 ngƣời đƣợc chọn từ các trƣờng nói trên, kết quả khảo sát cho thấy các chƣơng trình 8 hoạt động của TV trƣờng học ở Bắc Carolina tập trung vào các lĩnh vực sau: Cán bộ TV; Thời gian phục vụ; Ứng dụng công nghệ thông tin; Tra cứu Internet; Kinh phí hoạt động ; Sự QL.
Công trình nghiên cứu này cho thấy các hệ thống TV đã có những tác động cụ thể lên kết quả học tập của HS, đƣợc đo bằng điểm đọc chuẩn và các bài thi trắc nghiệm [33] Trên thế giới, các tác giả đã cho ra nhiều công trình nghiên cứu cho thấy TV rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vai trò của TV nhƣ một thiết chế xã hội đáp ứng nhu cầu thông tin, nhu cầu nghiên cứu và học tập, nhu cầu hƣởng thụ văn hóa và giải trí, đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí nên đều xây dựng các khung pháp lý để bảo vệ và phát triển sự nghiệp TV. Ở Việt Nam Ở nƣớc ta cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động xây dựng TV. Ở Việt Nam, TV xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ 11.
Thời kỳ phong kiến nƣớc ta cũng có một số TV của Nhà nƣớc, nhà nƣớc cũng có sắc phong một số quan chức TV nhƣng chủ yếu là các TV trong nhà chùa, trong các nhà nho. Ở thời kỳ này, TV chƣa nhiều, vốn sách ít ỏi và chịu ảnh hƣởng của kỹ thuật TV Trung Quốc. Đến năm 1919, TV Trung ƣơng Đông Dƣơng đƣợc xây dựng tại Hà Nội nay là TV Quốc gia Việt Nam. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến công tác TV, luôn luôn coi TV là công cụ hữu hiệu tuyên truyền các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc vào quảng đại quần chúng nhân dân, nâng cao dân trí góp phần phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phƣơng, từng cơ quan, nhà máy và của cả đất nƣớc.
Công tác TV luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Ngày 16/9/1970 Hội đồng chính phủ đã ra quyết định số 178-CP về công tác TV, quy định 9 những vấn đề QL ngành TV trong cả nƣớc. Văn bản này đƣợc coi là luật TV đầu tiên ở nƣớc ta để phát triển sự nghiệp TV Việt Nam. Cho đến nay, ngày ngày 21 tháng 11 năm 2019 Quốc hội đã ban hành luật TV số 46/2019/QH14.
Đây là văn bản hết sức quan trọng khẳng định đƣợc vị trí của ngành TV. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về QL TV nhƣ: “Cẩm nang nghề TV” của Lê Văn Viết [34], “QL TV và trung tâm thông tin” của Nguyễn Tiến Hiển-Nguyễn Thị Lan Thanh [10], “Sổ tay QL thông tin-TV” của Nguyễn Minh Hiệp [12] Theo tác giả Lê Văn Viết: “QL hoạt động thông tin TV là một phƣơng thức làm cho hoạt động của TV đƣợc hoàn thành với hiệu suất cao”. QL TV bao gồm một số nội dung cơ bản nhƣ tạo một cơ cấu hợp lý và hoạt động có hiệu quả; lập kế hoạch công tác; phát triển mạng lƣới TV; QL vốn tài liệu TV, QL cán bộ TV,… Nguyễn Tiến Hiển, Nguyễn Thị Lan Thanh cho rằng: “Tổ chức, QL TV và trung tâm thng tin hiện đại hoàn toàn giống với QL các cơ quan kinh tế quốc dân khác” [17,tr. Có nghĩa là QL cơ quan TV-thông tin là sự chỉ đạo, hƣớng dẫn, sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức Đảng, Nhà nƣớc, các tổ chức xã hội và cá nhân đến tập thể cán bộ, nhân viên của cơ quan TV thông tin đó.
Nội dung bao gồm QL con ngƣời, QL vốn tài liệu và QL trụ sở, trang thiết bị. Theo Nguyễn Minh Hiệp: Trƣớc xu thế hiện đại hóa TV, ngành TV đang ở giai đoạn QL thông tin. Ngƣời QL thông tin không chỉ quan tâm đến thông tin trong TV mình mà còn thông tin ở bên ngoài. Công tác QL TV còn đƣợc bao hàm cả sự liên thông giữa các TV theo xu hƣớng chuẩn hóa, hội nhập [27,tr.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà QL đã đƣợc công bố nhƣ các luận văn cao học dƣới đây: 10 - Đánh giá hoạt động khai thác và sử dụng TV nhà trƣờng phục vụ cho việc học tập của sinh viên năm cuối hệ Đại học chính quy, học viện Chính trị- hành chính Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh của Lê Thu Hoài luận văn thạc sĩ chuyên ngành QL giáo dục năm 2010. Luận văn làm rõ những tác động của TV đến việc học của sinh viên. Thay vì học thụ động, kiến thức sinh viên thu nhận đƣợc chỉ bó hẹp trong những bài giảng của GV, sinh viên có thể đến TV đọc tài liệu, nghiên cứu và làm chủ kiến thức của mình.
- Biện pháp QL hoạt động TV ở các trƣờng trung học phổ thông thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định của Nguyễn Hƣơng Giang luận văn thạc sĩ Giáo dục học năm 2013. Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất một số biện pháp QL hoạt động TV ở các trƣờng THPT ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QL TV, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nhà trƣờng. - Quản lý xây dựng TV các trƣờng tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo tiêu chuẩn TV trƣờng học phổ thông của Nguyễn Thị Công Chính luận văn thạc sĩ chuyên ngành QL giáo dục năm 2020.