Phần Mở Đầu 1. Lý do chọn đề tài Tổ chức Khoa học - Giáo dục - Văn hóa liên hiệp quốc (Unesco) đƣa ra bốn trụ cột của việc học tập ở thế kỷ XXI, đó là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm ngƣời. Mục đích học để làm ngƣời đƣợc đặt ở vị trí cuối là mục đích quan trọng nhất, cần đƣợc giáo dục ngay từ đầu và kéo dài trong suốt đời. Bốn trụ cột giáo dục trên thể hiện quan điểm giáo dục con ngƣời toàn diện.
Chất lƣợng nguồn nhân lực ngày nay cũng đƣợc đánh giá theo quan điểm toàn diện hơn, không chỉ dựa trên kỹ năng nghề, trình độ, khả năng sáng tạo, mà còn dựa vào văn hóa nghề, đó là nhận thức về nghề, các giá trị, chuẩn mực đạo lý trong lao động. Theo Nguyễn Đức Trí học sinh tốt nghiệp tại TTND và trƣờng TCCN chỉ đạt trung bình về kiến thức và kỹ năng, đặc biệt bị đánh giá thấp về đạo đức nghề nghiệp, tác phong lao động và tinh thần trách nhiệm [14,157]. Nhƣ vậy, kết quả giáo dục không thể hiện đƣợc quan điểm giáo dục nghề nghiệp toàn diện. Hay nói cách khác, vấn đề giáo dục văn hóa nghề, lối sống cho học sinh hiện nay đang gặp nhiều khó khăn.
Trong bối cảnh chung nhƣ thế, TTDN Phƣớc Lộc đánh giá là một trong số ít TTND đã thành công trong việc giáo dục học sinh: - Sở Lao Động Thƣơng Binh và Xã Hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận xét: Trung tâm đã làm tốt công tác giáo dục và đào tạo nghề. Học sinh tốt nghiệp có đƣợc việc làm ổn định, là những công dân có ích cho xã hội, có tƣ cách đạo đức tốt. - Các nhà tuyển dụng tại khu công nghiệp Phú Mỹ nhận xét: Những ƣu điểm của học sinh Phƣớc lộc là tính kỷ luật, sự nhiệu tình và khả năng hội nhập cao, tác phong công nghiệp tốt. Trong đó, học sinh Phƣớc lộc có sự đồng đều và nổi bật trong kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp.
1 Luan van - Thông tin từ Trung tâm là 85% HSTN có việc trong 6 tháng, trong đó 70% đƣợc nhận việc ngay sau khi thực tập (trƣớc khi tốt nghiệp). Điều quan trọng hơn cả là phụ huynh vui mừng vì sự thay đổi lối sống của con em sau thời gian học tập, rèn luyện ở trung tâm, học sinh có niềm tin vào cuộc sống và sống tích cực. Do đó, học sinh đăng ký tuyển sinh luôn vƣợt quá chỉ tiêu. Kết quả đó thể hiện sự thành công của việc giáo dục toàn diện.
Vì thế, nghiên cứu các yếu tố thành công trong công tác giáo dục học sinh của TTDN Phƣớc Lộc tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để có những bài học kinh nghiệm là một điều hữu ích và cần thiết. Với những lý do trên, đề tài nghiên cứu đƣợc chọn để thực hiện là “Xác định yếu tố thành công trong công tác giáo dục học sinh tại TTDN Phƣớc Lộc và khả năng áp dụng cho các TTDN khác” để làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu của đề tài 1. Xác định những yếu tố thành công trong công tác giáo dục học sinh tại TTDN Phƣớc Lộc 2.
Rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho những trung tâm khác trong những điều kiện cần thiết 3. Câu hỏi nghiên cứu 1. Sự thành công về công tác giáo dục học sinh của Phƣớc Lộc thể hiện ở những điểm nào? 2. Quan điểm giáo dục nền tảng của Phƣớc Lộc nhƣ thế nào? 3.
Quan điểm đó đƣợc thực hiện trong thực tế nhƣ thế nào? 4. Giả thuyết nghiên cứu Sự thành công của TTDN Phƣớc Lộc trong việc giáo dục con ngƣời toàn diện là nhờ sự lựa chọn đúng đắn triết lý (tƣ tƣởng) giáo dục, cách thức triển khai triết lý giáo dục đã chọn trong thực tiễn giáo dục của nhà trƣờng và sự thành công ấy có thể áp dụng cho các TTDN khác có hoàn cảnh tƣơng tự. Nhiệm vụ nghiên cứu và nội dung nghiên cứu + Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Phân tích môi trƣờng giáo dục của TTDN Phƣớc Lộc 2.
Xác định quan điểm tiếp cận giáo dục của TTDN Phƣớc Lộc: triết lý giáo dục, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức, hoạt động giáo dục 3. Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến học sinh 4. Phân tích khả năng áp dụng cho những TTDN khác + Nội dung nghiên cứu 1. Nghiên cứu tổng quan về đề tài giáo dục 2.
Tổng hợp những lý thuyết về giáo dục 3. Xác định những tiêu chí để đánh giá chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp 4. Thu thập dữ liệu về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục, các hoạt động giáo dục tại TTDN Phƣớc Lộc 5. Phân tích dữ liệu thu thập đƣợc để xác định yếu tố thành công 6.
Rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho những trung tâm khác 6. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu + Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là những yếu tố thành công trong công tác giáo dục học sinh gồm nội dung, phƣơng pháp, kế hoạch chƣơng trình, các con đƣờng giáo dục, hình thức tổ chức hoạt động. + Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là học sinh, giáo viên, môi trƣờng học tập, cơ sở đào tạo. Phƣơng pháp nghiên cứu 1.
Nghiên cứu lý thuyết bằng phƣơng pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý luận. Nghiên cứu thực tiễn bằng phƣơng pháp quan sát - tham dự, điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn bán cấu trúc, thu thập thông tin trong kế hoạch và chƣơng trình giáo dục của TTDN Phƣớc Lộc. Sử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Exel và SPSS. Giới hạn đề tài 1.
Đề tài nghiên cứu giới hạn trong môi trƣờng giáo dục có nội trú của TTDN Phƣớc Lộc. Bài học kinh nghiệm rút ra để áp dụng cho các môi trƣờng giáo dục có điều kiện tƣơng tự: môi trƣờng nội trú, học sinh ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TOÀN DIỆN 1.1 Lịch sử về giáo dục toàn diện 1.1 Lịch sử vấn đề giáo dục toàn diện Lịch sử giáo dục gắn liền với sự phát triển văn minh nhân loại. Giáo dục con ngƣời toàn diện luôn là mục tiêu xã hội của mọi thời đại.
Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh mà mẫu ngƣời toàn diện ở mỗi xã hội có đặc trƣng của nó. Với giáo dục Đông phƣơng cổ đại, theo Khổng Tử mẫu ngƣời toàn diện là ngƣời quân tử có các đức tính: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Con đƣờng để thành ngƣời quân tử là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tu thân là bƣớc đầu tiên và là điều quan trọng nhất, “thậm chí coi tu dƣỡng tính là cơ sở để nhận thức thể giới khách quan” [13,48], ngƣợc lại nhận thức tốt (minh sáng) thì mới tu dƣỡng tốt.
Điều đó cho thấy trong tƣ tƣởng Nho Giáo, giáo dục nhận thức, tri thức và tu dƣỡng bản thân trở thành hai yếu tố thống nhất trong giáo dục. Ở Hy Lạp cổ đại có hai nền giáo dục đặc trƣng là Sparta và Athens. Nền giáo dục của ngƣời Sparta cổ đại nhằm hình thành con ngƣời có khả năng chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ và quyền thống trị của dân tộc. Vì vậy, quan niệm của Sparta về con ngƣời toàn diện là ngƣời võ sĩ “khỏe mạnh, có ý chí của chủ nô và có kỹ năng chiến đấu, chiến thuật tác chiến” [12,36].
Ngƣời Sparta đã giáo dục con ngƣời về nhiều mặt, phát triển cả về trí tuệ, thể chất, đạo đức và kỹ năng cho một mục đích chuyên biệt là chiến đấu. Phƣơng pháp giáo dục là thực hành. 4 Luan van Không coi trọng giáo dục thể chất nhƣ ngƣời Sparta, ngƣời Athens đề cao các giá trị văn hóa nghệ thuật. Vì thế, Athens trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, giáo dục của Hy Lạp.
Trẻ con Athens đƣợc học thơ, kịch, lịch sử, các thần thoại Hy Lạp và thể dục thể thao. Quan niệm của Athens về con ngƣời toàn diện là “khôn ngoan và đạo đức” [9,34], khi giảng dạy luôn hƣớng về mục tiêu này trong bất cứ môn học nào. Điều đó thể hiện sự thống nhất giữa mục tiêu và chƣơng trình giáo dục. Aristote nhà giáo dục tiêu biểu của Hy Lạp cổ đại, quan niệm con ngƣời gồm ba thành tố: xƣơng thịt, ý chí và lý trí.
Vì thế giáo dục phải hƣớng tới các nhiệm vụ giáo dục “thể chất, đức dục và trí dục” [12,43]; tƣơng ứng với mỗi nhiệm vụ là một nội dung thích hợp. Đây là quan điểm triết học về giáo dục toàn diện đầu tiên đƣợc nêu ra cách cụ thể. Ba nhiệm vụ giáo dục không xuất phát từ ngƣời lớn, từ xã hội mà xuất phát từ đặc điểm, nhu cầu tự nhiên của trẻ em. Ông đã nêu lên nguyên tắc quan trọng là giáo dục phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên con ngƣời, theo sự phát triển của lứa tuổi.
Tƣ tƣởng giáo dục trong thời Trung cổ (tại Tây Âu) chịu ảnh hƣởng bởi Kitô giáo, nhằm đến mẫu ngƣời toàn diện có kiến thức tổng quát, đức công bằng, lòng can đảm và lòng thành theo tƣ tƣởng trong Kinh Thánh. Phƣơng pháp giáo dục chính yếu là giảng giải, thuộc lòng và tu đức. Những trình bày trên cho thấy đặc điểm chung ở các mục tiêu giáo dục là con ngƣời toàn diện với nhiều khía cạnh. Đặc biệt, Aristote đã có tƣ tƣởng giáo dục cho con ngƣời toàn diện trong ba nhiệm vụ thể chất, đạo đức và trí tuệ.
Nhìn chung, mục đích giáo dục trong thời kỳ này hƣớng đến sự ổn định xã hội. Kinh nghiệm của Athens là bất kỳ hoạt động nào cũng phải hƣớng đến mục tiêu giáo dục, thể hiện tính thống nhất của chƣơng trình với mục tiêu và mục đích.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giáo dục toàn diện trên thế giới Bắt đầu từ Komensky(1592 - 1670), vƣợt trên tổng kết kinh nghiệm đơn thuần, giáo dục con ngƣời toàn diện kể nhƣ lần đầu đƣợc nghiên cứu bằng phƣơng pháp quan sát khoa học. Komensky coi trọng mục tiêu giáo dục toàn diện, đó là: 5 Luan van giáo dục trí tuệ, nghệ thuật, đạo đức và tâm linh. Đối với việc giáo dục đạo đức, ông đã lấy những đức tính “khôn ngoan, điều độ, can đảm và công bằng” [5,181] làm nền tảng.
Chịu ảnh hƣởng từ thuyết duy cảm của Bacon, nguyên tắc nền tảng của Komensky là trực quan cả trong dạy học và giáo dục. Ngoài ra, ông còn những nguyên tắc giá trị khác nhƣ: giáo dục không cƣỡng bách mà để trẻ đƣợc hƣớng dẫn bởi chính trí tuệ của mình; nguyên tắc vừa sức; chƣơng trình phải có tính hệ thống, tính kế thừa và cần đƣợc xác định mục tiêu cụ thể.