Luận án: Các yếu tố tác động đến dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam - ĐH Kinh tế Quốc dân

Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam. Phân tích sâu sắc, đề xuất giải pháp thúc đẩy khởi sự kinh doanh.

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

188
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của nghiên cứu

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY KHỞI SỰ KINH DOANH

1.1. Tổng quan nghiên cứu về khởi sự kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh

1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2. Tổng quan nghiên cứu về chính sách thúc đẩy khởi sự kinh doanh

1.2.1. Hướng nghiên cứu về cơ chế, chính sách thúc đẩy KSKD ở Việt Nam

1.2.2. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách thúc đẩy khởi sự kinh doanh

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH

2.1. Các khái niệm liên quan đến khởi sự kinh doanh của thanh niên

2.1.1. Khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên

2.1.2. Vai trò khởi sự kinh doanh của thanh niên

2.2. Các lý thuyết cơ bản liên quan đến dự định và khởi sự kinh doanh

2.2.1. Lý thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action - TRA)

2.2.2. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB)

2.2.3. Lý thuyết sự kiện khởi sự kinh doanh (The Entrepreneurial Event - SEE)

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh

2.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc bản thân thanh niên

2.3.2. Nhóm các nhân tố từ môi trường bên ngoài

2.4. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

2.4.1. Mô hình nghiên cứu

2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phát triển thang đo và phiếu điều tra

3.2.1. Thang đo Dự định khởi sự kinh doanh

3.2.2. Thang đo Thái độ đối với tiền bạc

3.2.3. Thang đo Thái độ đối với khởi sự kinh doanh

3.2.4. Thang đo chuẩn mực chủ quan

3.2.5. Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi

3.2.6. Thang đo Giáo dục khởi sự kinh doanh

3.2.7. Thang đo Kinh nghiệm khởi sự kinh doanh

3.2.8. Thang đo Chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với khởi sự kinh doanh

3.2.9. Thang đo Nhu cầu thành tích

3.3. Điều tra sơ bộ

3.4. Nghiên cứu chính thức

3.4.1. Thiết kế phiếu điều tra

3.4.2. Xác định mẫu điều tra

3.4.3. Phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC TRẠNG DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

4.1. Thực trạng khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam

4.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam

4.2.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

4.2.2. Kiểm định thang đo

4.2.3. Phân tích thống kê mô tả các thang đo trong mô hình

4.2.4. Phân tích sự khác biệt về dự định khởi sự kinh doanh theo một số đặc điểm cơ bản của thanh niên Việt Nam

4.2.5. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam

5. CHƯƠNG 5 BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THANH NIÊN VIỆT NAM KHỞI SỰ KINH DOANH

5.1. Bình luận kết quả nghiên cứu

5.1.1. Các giả thuyết chưa được khẳng định

5.1.2. Các giả thuyết được ủng hộ

5.2. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy thanh niên Việt Nam khởi sự kinh doanh

5.2.1. Nâng cao nhận thức, thái độ của thanh niên về KSKD, hình thành thái độ tích cực của TNVN đối với hoạt động KSKD, giúp thanh niên nuôi dưỡng và phát triển ý định KSKD

5.2.2. Nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi của TNVN

5.2.3. Quan tâm, đầu tư vào hoạt động giáo dục KSKD cho thanh niên, phát triển mô hình giáo dục khởi nghiệp từ trong hệ thống giáo dục phổ thông

5.2.4. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thúc đẩy KSKD phù hợp với sự phát triển của thị trường và nhu cầu hỗ trợ của các đối tường thanh niên tham gia KSKD

5.3. Một số đóng góp và hạn chế của nghiên cứu

5.3.1. Những đóng góp mới của luận án

5.3.2. Những hạn chế của luận án

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC PHỤ LỤC

2. Kết quả phân tích độ tin cậy các thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha

3. Kết quả phân tích EFA với tập biến quan sát

4. Kết quả phân tích CFA

5. Phân tích Post Hoc Test giữa các nhóm trình độ chuyên môn

6. Phân tích Post Hoc Test giữa các nhóm vùng/miền

7. Phân tích Post Hoc Test giữa các nhóm nghề nghiệp của Bố

8. Phân tích Post Hoc Test giữa các nhóm nghề nghiệp của Mẹ

9. Mô hình cấu trúc (SEM) ban đầu

10. Mô hình SEM điều chỉnh

11. Phân tích mô hình cấu trúc đa nhóm – Theo trạng thái nghề nghiệp

Tóm tắt

I. Tại Sao Thanh Niên Việt Cần Khởi Nghiệp Động Lực Phát Triển Kinh Tế

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng và kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội lẫn thách thức, việc quan tâm đến khởi sự kinh doanh và hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam hùng mạnh trở thành con đường then chốt để quốc gia phát triển nhanh, bền vững. Thanh niên Việt Nam - lực lượng xã hội to lớn, nguồn nhân lực quan trọng - đóng vai trò tiên phong trong công cuộc này. Theo Luật Thanh niên 2015, thanh niên được định nghĩa là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu đến ba mươi tuổi, nhưng trong nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2019) thống nhất cách hiểu thanh niên là những người trưởng thành, có tuổi từ 18 đến 34. Nhóm tuổi này không chỉ chiếm tỷ lệ lớn trong dân số mà còn có động lực khởi nghiệp thanh niên mạnh mẽ. Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 2014 của Lương Minh Huân (2015) chỉ ra rằng thanh niên từ 18-34 tuổi có tỷ lệ khởi sự kinh doanh cao hơn hẳn so với trung niên. Mặc dù nhận thức về khả năng kinh doanh thấp hơn, họ lại nhạy bén hơn về cơ hội kinh doanh, mạo hiểm hơn và có ý định khởi sự cao hơn. Điều này khẳng định tiềm năng to lớn của giới trẻ trong việc tạo dựng các doanh nghiệp mới.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận thức rõ vai trò ý nghĩa của khởi nghiệp đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Nhiều nghị quyết quan trọng đã được ban hành như Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân, đặt mục tiêu gia tăng số lượng doanh nghiệp lên 1 triệu vào năm 2020, 1,5 triệu vào năm 2025 và 2 triệu vào năm 2030. Để đạt được các mục tiêu này, việc tập trung thúc đẩy khởi sự kinh doanh ở thanh niên là một hướng đi chiến lược. Như Sobel và King (2008) đã khẳng định, khởi sự kinh doanh là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu như của Drucker (1985) và Gorman cùng cộng sự (1997) cũng chỉ ra rằng khởi sự kinh doanh là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia, tạo ra các doanh nghiệp mới, công việc mới và cải thiện thu nhập, đời sống người dân. Dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt vì vậy không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn là yếu tố cốt lõi cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt cần được nghiên cứu và hiểu rõ để có thể triển khai các chính sách hỗ trợ hiệu quả nhất.

1.1. Vai trò then chốt của thanh niên Việt Nam trong phát triển kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân tại Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng, góp phần đáng kể vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng vốn đầu tư của nền kinh tế. Theo Cục Phát triển Doanh nghiệp (2017), khu vực này đóng góp 43,22% GDP và 39% vốn đầu tư. Sự phát triển mạnh mẽ này được củng cố bởi các chính sách quan trọng, điển hình là Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương Đảng về phát triển kinh tế tư nhân thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết này đặt ra mục tiêu đầy tham vọng về số lượng doanh nghiệp và tỷ lệ đóng góp vào GDP. Trong bối cảnh đó, thanh niên Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt. Với ước tính 23,3 triệu người (chiếm 24,6% dân số cả nước năm 2018 theo Viện Nghiên cứu Thanh niên), nhóm tuổi này có tiềm năng lớn để thúc đẩy khởi sự kinh doanh. Họ là những người trẻ, năng động, dễ tiếp thu công nghệ, sẵn sàng đổi mới và chấp nhận rủi ro, đây là những đặc tính cần thiết để tạo ra các doanh nghiệp mới và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia.

1.2. Mục tiêu quốc gia và tầm quan trọng của dự định khởi sự kinh doanh

Mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế tư nhân và gia tăng số lượng doanh nghiệp đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thúc đẩy khởi sự kinh doanh. Trong đó, việc tập trung vào thanh niên Việt là trọng tâm chiến lược. Theo Ajzen (2015), dự định của cá nhân là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi, và điều này đã được chứng minh trong lĩnh vực khởi sự kinh doanh (Krueger & Brazeal, 1994; Krueger và cộng sự, 2000). Một dự định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ sẽ dẫn đến nỗ lực để bắt đầu công việc kinh doanh mới. Việc nghiên cứu dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên không chỉ phản ánh hành vi khởi sự kinh doanh thực tế mà còn cung cấp cơ sở để xây dựng các giải pháp và khuyến nghị hiệu quả. Mục tiêu của Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2019) là xác định rõ các yếu tố tác động đến dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp thúc đẩy. Do đó, việc hiểu và củng cố dự định khởi sự kinh doanh trong giới trẻ là yếu tố then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.

II. Rào Cản Khởi Nghiệp Giới Trẻ Việt Những Thách Thức Cần Vượt Qua

Mặc dù có nhiều tiềm năng và động lực khởi nghiệp thanh niên mạnh mẽ, giới trẻ Việt Nam vẫn phải đối mặt với không ít rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt. Những thách thức này đến từ cả yếu tố nội tại của bản thân người khởi nghiệp lẫn môi trường bên ngoài. Theo Ajzen (1991), hành động khởi sự kinh doanh là kết quả của nhận thức, nơi một cá nhân có thái độ tích cực, suy nghĩ và dự định rõ ràng về hành động đó. Tuy nhiên, để dự định này chuyển hóa thành hành động, nhiều yếu tố cần được xem xét. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2019) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh, bao gồm cả nhóm nhân tố thuộc bản thân thanh niên và nhóm nhân tố từ môi trường bên ngoài.

Một trong những thách thức lớn là sự thiếu hụt kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻkỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên cần thiết. Mặc dù có nhiều ý tưởng sáng tạo và khát vọng làm giàu của người trẻ, nhưng thiếu kiến thức thực tiễn về quản lý, tài chính, marketing có thể khiến họ chùn bước. Tâm lý doanh nhân trẻ thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nhưng sự thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng có thể dẫn đến thất bại, từ đó củng cố thái độ đối với rủi ro khi khởi nghiệp một cách tiêu cực. Ngoài ra, việc huy động vốn khởi nghiệp cho người trẻ cũng là một trở ngại đáng kể, khi các kênh hỗ trợ tài chính khởi nghiệp thanh niên chưa thực sự dễ tiếp cận hoặc yêu cầu các điều kiện khó đáp ứng. Môi trường kinh doanh Việt Nam dù đang cải thiện nhưng vẫn còn những rào cản về thủ tục hành chính, tính cạnh tranh cao và sự biến động của thị trường. Nhận thức về các yếu tố này giúp xác định những lĩnh vực cần tập trung cải thiện để thúc đẩy mạnh mẽ hơn dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam.

Các nghiên cứu thực nghiệm đã làm rõ hơn về các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt. Chẳng hạn, Autio và cộng sự (2001) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh trong sinh viên nhiều quốc gia, cho thấy kiểm soát hành vi là yếu tố quan trọng nhất. Gird và Bagraim (2008) cũng khẳng định kinh nghiệm khởi sự kinh doanh trước đó có ý nghĩa quan trọng đối với dự định KSKD của sinh viên. Sự phức tạp của các yếu tố này đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều để tháo gỡ rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt, từ việc nâng cao năng lực cá nhân đến cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam.

2.1. Phân tích các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh

Các yếu tố cá nhân đóng vai trò then chốt trong việc hình thành dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên. Điều này bao gồm năng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp, kinh nghiệm, thái độ, giáo dục và tình hình tài chính cá nhân. Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), dự định thực hiện hành vi chịu tác động của ba yếu tố chính: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ đối với khởi sự kinh doanh thể hiện mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân về việc này, bao gồm cả việc cân nhắc giá trị và lợi nhuận tiềm năng. Chuẩn mực chủ quan phản ánh áp lực xã hội mà một cá nhân cảm nhận được về việc khởi sự kinh doanh, tức là liệu những người xung quanh (gia đình, bạn bè) có ủng hộ hay không. Cuối cùng, nhận thức kiểm soát hành vi liên quan đến cảm nhận về khả năng và nguồn lực để thực hiện hành vi, cũng như những trở ngại tiềm tàng. Việc thiếu kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ hay kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên là những trở ngại lớn, làm giảm nhận thức kiểm soát hành vi.

2.2. Ảnh hưởng từ môi trường kinh doanh Việt Nam và xã hội

Môi trường kinh doanh Việt Nam và các yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc định hình dự định khởi nghiệp của thanh niên. Các yếu tố này bao gồm cơ hội thị trường, khả năng tiếp cận vốn khởi nghiệp cho người trẻ, mức độ cạnh tranh, và các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của gia đình đến khởi nghiệp cũng không thể bỏ qua, bởi những người thân có thể là nguồn động viên hoặc rào cản. Văn hóa khởi nghiệp Việt đang dần hình thành, nhưng vẫn cần sự thúc đẩy mạnh mẽ hơn từ cộng đồng và truyền thông. Theo Shapero và Sokol (1982), quyết định thành lập doanh nghiệp của một cá nhân phụ thuộc vào những thay đổi trong cuộc sống và thái độ đối với việc khởi sự kinh doanh, cũng như cảm nhận về tính khả thi và mong muốn khởi sự kinh doanh. Môi trường xung quanh (chính sách của chính phủ, giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam, truyền thống kinh doanh của gia đình) có thể là "chất xúc tác" hoặc "rào cản" cho việc chuyển từ dự định sang hành động. Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp định hướng các giải pháp toàn diện để tạo ra một hệ sinh thái thuận lợi hơn cho thanh niên khởi nghiệp.

III. Bí Quyết Thúc Đẩy Kỹ Năng Khởi Nghiệp và Năng Lực Tự Chủ Thanh Niên

Để hiện thực hóa dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt, việc trang bị kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên và phát triển năng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp là yếu tố then chốt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người trẻ có ý tưởng táo bạo và khả năng tạo dựng những công ty hàng đầu thế giới (Jones và cộng sự, 2012), nhưng họ cần được hỗ trợ để mài giũa các kỹ năng cần thiết. Điều này không chỉ bao gồm kiến thức chuyên môn mà còn là khả năng giải quyết vấn đề, quản lý rủi ro và xây dựng đội ngũ. Giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển những kỹ năng này từ sớm. Thông qua các khóa học, hội thảo, và chương trình thực tế, thanh niên có thể tiếp cận với các kiến thức về quản trị, tài chính, marketing, và công nghệ, giúp họ tự tin hơn khi đối mặt với thái độ đối với rủi ro khi khởi nghiệp.

Ngoài ra, việc xây dựng một mạng lưới kết nối khởi nghiệp vững mạnh là vô cùng cần thiết. Mạng lưới này không chỉ cung cấp cơ hội học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ mà còn là kênh tìm kiếm đối tác, nhà đầu tư và cố vấn. Các chương trình cố vấn (mentorship) có thể giúp thanh niên tiếp cận với những người có kinh nghiệm, nhận được lời khuyên quý báu và tránh được những sai lầm phổ biến. Điều này góp phần củng cố tâm lý doanh nhân trẻ, giúp họ vượt qua những giai đoạn khó khăn ban đầu. Các tổ chức như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sân chơi, diễn đàn để thanh niên trao đổi và phát triển. Việc thúc đẩy công nghệ và đổi mới trong khởi nghiệp cũng là một phần không thể thiếu, vì thế hệ trẻ là những người tiếp thu công nghệ nhanh nhất và có khả năng ứng dụng sáng tạo vào các mô hình kinh doanh mới, từ đó khai thác thị trường tiềm năng cho startup Việt.

Như Nguyễn Anh Tuấn (2019) đã đề cập, "Quan tâm, đầu tư vào hoạt động giáo dục KSKD cho thanh niên, phát triển mô hình giáo dục khởi nghiệp từ trong hệ thống giáo dục phổ thông" là một trong những giải pháp quan trọng. Sự kết hợp giữa giáo dục chính quy và các hoạt động ngoại khóa sẽ tạo nền tảng vững chắc cho thanh niên Việt trên con đường hiện thực hóa khát vọng làm giàu của người trẻ thông qua khởi sự kinh doanh.

3.1. Phát triển giáo dục khởi nghiệp hiệu quả trong hệ thống đào tạo

Giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam cần được quan tâm và đầu tư mạnh mẽ, từ cấp phổ thông đến đại học. Mục tiêu là trang bị cho thanh niên Việt những kỹ năng khởi nghiệp cơ bản và nâng cao, bao gồm tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, quản lý tài chính, marketing số, và kỹ năng lãnh đạo. Các khóa học cần chú trọng tính thực tiễn, kết hợp lý thuyết với các dự án thực tế, thăm quan doanh nghiệp, và mời các doanh nhân thành công chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ. Theo Fayolle và cộng sự (2006) và Souitaris và cộng sự (2007), các chương trình khởi sự kinh doanh đã cải thiện đáng kể thái độ đối với khởi sự kinh doanhdự định KSKD của sinh viên. Việc tích hợp giáo dục khởi nghiệp vào chương trình giảng dạy sẽ giúp thanh niên sớm hình thành tâm lý doanh nhân trẻ, nhận biết và đánh giá cơ hội kinh doanh, từ đó củng cố dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt. Điều này đặc biệt quan trọng để xây dựng một thế hệ chủ động, có khả năng tự tạo việc làm và đóng góp vào sự phát triển kinh tế.

3.2. Xây dựng mạng lưới kết nối khởi nghiệp và cố vấn chuyên sâu

Việc xây dựng một mạng lưới kết nối khởi nghiệp vững mạnh là yếu tố cần thiết để hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp. Mạng lưới này bao gồm các vườn ươm doanh nghiệp, không gian làm việc chung (co-working space), cộng đồng khởi nghiệp trực tuyến, và các sự kiện kết nối đầu tư. Thông qua mạng lưới kết nối khởi nghiệp, thanh niên có cơ hội gặp gỡ, học hỏi từ các chuyên gia, cố vấn và những người đã có kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ. Như Gird và Bagraim (2008) đã chỉ ra, kinh nghiệm KSKD trước đó có ý nghĩa quan trọng đối với dự định KSKD. Các chương trình cố vấn chuyên sâu giúp thanh niên vượt qua những khó khăn ban đầu, phát triển ý tưởng kinh doanh và xây dựng chiến lược hiệu quả. Đồng thời, mạng lưới kết nối cũng là cầu nối để thanh niên tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính khởi nghiệp thanh niên và cơ hội hợp tác, từ đó nâng cao năng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp và giảm bớt rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt.

IV. Nguồn Vốn và Chính Sách Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Việt Nam Cơ Hội Vàng Cho Người Trẻ

Việc tiếp cận vốn khởi nghiệp cho người trẻ và sự hỗ trợ từ các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam là những yếu tố cực kỳ quan trọng, có khả năng biến dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt thành hiện thực. Nhiều thanh niên có khát vọng làm giàu của người trẻ và những ý tưởng sáng tạo, nhưng lại thiếu nguồn lực tài chính ban đầu. Chính vì vậy, các chương trình hỗ trợ tài chính khởi nghiệp thanh niên từ nhà nước, các quỹ đầu tư mạo hiểm, hay các tổ chức xã hội là cần thiết. Điều này không chỉ giúp họ có nguồn vốn để bắt đầu mà còn củng cố niềm tin và năng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp, giúp họ vượt qua rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt liên quan đến tài chính. Các chính sách cần đơn giản hóa quy trình tiếp cận vốn, đồng thời cung cấp các công cụ quản lý tài chính hiệu quả.

Bên cạnh vốn, hệ thống chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam tổng thể cần được hoàn thiện. Điều này bao gồm các ưu đãi về thuế, hỗ trợ về pháp lý, thông tin thị trường, và hạ tầng công nghệ. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân và khởi sự kinh doanh, như Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa và triển khai các chính sách này cần đảm bảo tính thực tiễn và dễ tiếp cận đối với thanh niên Việt. Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2019), "Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thúc đẩy KSKD phù hợp với sự phát triển của thị trường và nhu cầu hỗ trợ của các đối tượng thanh niên tham gia KSKD" là một trong những giải pháp quan trọng. Sự minh bạch và ổn định của môi trường kinh doanh Việt Nam cũng là yếu tố thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các startup phát triển. Việc phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức giáo dục để tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện sẽ là "cơ hội vàng" để thanh niên Việt hiện thực hóa quyết định thành lập doanh nghiệp.

Các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam cũng cần chú trọng đến việc tạo điều kiện cho công nghệ và đổi mới trong khởi nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới nổi. Việc này giúp thanh niên Việt tận dụng lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có tính cạnh tranh cao trên thị trường tiềm năng cho startup Việt. Khi có sự hậu thuẫn vững chắc từ chính sách và tài chính, dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên sẽ được củng cố, thúc đẩy họ mạnh dạn hơn trong việc theo đuổi con đường khởi nghiệp.

4.1. Giải pháp hỗ trợ tài chính khởi nghiệp thanh niên và quản lý vốn khởi nghiệp

Để giải quyết vấn đề vốn khởi nghiệp cho người trẻ, cần có các giải pháp hỗ trợ tài chính khởi nghiệp thanh niên đa dạng và linh hoạt. Điều này bao gồm việc phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho startup, chương trình vay vốn ưu đãi từ ngân hàng, và các hình thức gọi vốn cộng đồng (crowdfunding). Bên cạnh đó, việc cung cấp kiến thức và kỹ năng quản lý tài chính cho thanh niên là hết sức cần thiết. Nhiều startup thất bại không phải vì thiếu ý tưởng mà vì quản lý vốn khởi nghiệp không hiệu quả. Các khóa đào tạo về lập kế hoạch kinh doanh, phân tích dòng tiền, và quản lý rủi ro tài chính sẽ giúp thanh niên Việt sử dụng nguồn vốn một cách thông minh và bền vững. Việc tạo ra các cuộc thi khởi nghiệp với giải thưởng là vốn mồi cũng là một cách hiệu quả để kích thích động lực khởi nghiệp thanh niên và cung cấp hỗ trợ tài chính ban đầu. Khi thanh niên Việt được trang bị đầy đủ kiến thức về vốn khởi nghiệp và có cơ hội tiếp cận tài chính, dự định khởi sự kinh doanh của họ sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển.

4.2. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp để kích thích dự định KSKD

Việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam là yếu tố then chốt để kích thích và nuôi dưỡng dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên. Các chính sách này cần bao gồm việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho startup, và cung cấp các gói ưu đãi về thuế, mặt bằng. Theo Nguyễn Anh Tuấn (2019), "Hỗ trợ của chính phủ ảnh hưởng như thế nào đến dự định KSKD của TNVN?" là một trong những câu hỏi nghiên cứu quan trọng, cho thấy tầm ảnh hưởng của các chính sách. Ngoài ra, cần tăng cường vai trò của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp như các trung tâm ươm tạo, vườn ươm công nghệ, và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách hỗ trợ không chỉ dừng lại ở mặt vật chất mà còn cần có các chương trình đào tạo, cố vấn, và kết nối mạng lưới khởi nghiệp. Khi môi trường kinh doanh Việt Nam trở nên thuận lợi và thân thiện hơn, rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt sẽ được giảm thiểu, từ đó thúc đẩy thanh niên Việt mạnh dạn hơn trong việc theo đuổi khát vọng làm giàu của người trẻ và thực hiện quyết định thành lập doanh nghiệp.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Các Yếu Tố Tác Động Dự Định Khởi Nghiệp Rõ Nét

Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2019) về các yếu tố tác động dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt Nam đã cung cấp những kết quả quan trọng, làm rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến dự định KSKD của giới trẻ. Dựa trên khung lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và lý thuyết sự kiện khởi sự kinh doanh (SEE) của Shapero và Sokol (1982), luận án đã xác định được một số giả thuyết được ủng hộ và chưa được khẳng định. Điều này mang lại cái nhìn sâu sắc về tâm lý doanh nhân trẻ và cách các yếu tố nội tại cùng với môi trường kinh doanh Việt Nam định hình quyết định thành lập doanh nghiệp.

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thái độ đối với khởi sự kinh doanh và chuẩn mực chủ quan có ảnh hưởng đáng kể đến dự định KSKD. Điều này có nghĩa là khi một cá nhân có cái nhìn tích cực về việc khởi sự kinh doanh và nhận được sự ủng hộ từ những người xung quanh (gia đình, bạn bè), dự định của họ sẽ mạnh mẽ hơn. Một yếu tố khác được nhấn mạnh là nhận thức kiểm soát hành vi, tức là cảm nhận của cá nhân về khả năng và nguồn lực để thực hiện hành vi. Khi thanh niên Việt cảm thấy mình có đủ kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên và nguồn lực, dự định khởi sự kinh doanh của họ sẽ càng được củng cố. Các kết quả này đồng nhất với nhiều nghiên cứu quốc tế đã áp dụng TPB trong bối cảnh khởi sự kinh doanh, như Kolvereid (1996), Autio và cộng sự (2001).

Nghiên cứu cũng xem xét vai trò của kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻgiáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam. Mặc dù một số giả thuyết liên quan đến mối quan hệ trung gian giữa các yếu tố chưa được khẳng định rõ, tầm quan trọng của các yếu tố này trong việc xây dựng nền tảng cho dự định KSKD là không thể phủ nhận. Ví dụ, giáo dục khởi nghiệp có thể tác động gián tiếp thông qua việc cải thiện thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi. Các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt là đa chiều, bao gồm cả động lực khởi nghiệp thanh niên bên trong và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam bên ngoài. Hiểu rõ những tương tác này giúp đưa ra các khuyến nghị thiết thực để thúc đẩy khát vọng làm giàu của người trẻ và giảm bớt rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt.

5.1. Phân tích mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với khởi sự kinh doanh và chuẩn mực chủ quan

Trong nghiên cứu về dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên Việt, thái độ đối với khởi sự kinh doanh và chuẩn mực chủ quan được xác định là hai yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể. Thái độ đối với khởi sự kinh doanh phản ánh sự đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân về việc tham gia vào hoạt động này, bao gồm cả niềm tin về khả năng thành công và các lợi ích tiềm năng. Nếu thanh niên Việt nhìn nhận khởi sự kinh doanh là con đường hấp dẫn, mang lại sự độc lập tài chính và cơ hội phát triển bản thân, dự định KSKD của họ sẽ mạnh mẽ hơn. Đồng thời, chuẩn mực chủ quan thể hiện áp lực xã hội từ những người quan trọng như gia đình, bạn bè, thầy cô. Sự ủng hộ, động viên từ môi trường xung quanh sẽ củng cố niềm tin của cá nhân, giảm bớt thái độ đối với rủi ro khi khởi nghiệp, và tạo thêm động lực khởi nghiệp thanh niên. Kết quả này phù hợp với các lý thuyết hành vi đã được kiểm chứng, nơi mà quyết định thành lập doanh nghiệp thường chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cả quan điểm cá nhân và kỳ vọng xã hội.

5.2. Vai trò của kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ và nhận thức kiểm soát hành vi

Nghiên cứu cũng làm rõ vai trò của kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ và nhận thức kiểm soát hành vi đối với dự định khởi sự kinh doanh. Nhận thức kiểm soát hành vi là cảm nhận của thanh niên Việt về sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi khởi sự kinh doanh, thể hiện niềm tin vào khả năng kiểm soát các nguồn lực và vượt qua trở ngại. Khi thanh niên Việtnăng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp cao, được trang bị kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên vững chắc (nhờ giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam), họ sẽ có nhận thức kiểm soát hành vi tích cực hơn. Kinh nghiệm kinh doanh của giới trẻ, dù là thông qua việc làm thêm, tham gia các dự án nhỏ, hay các cuộc thi khởi nghiệp, đều góp phần củng cố nhận thức này. Gird và Bagraim (2008) đã chứng minh kinh nghiệm KSKD trước đó có ý nghĩa quan trọng đối với dự định KSKD. Những kinh nghiệm này giúp thanh niên hiểu rõ hơn về môi trường kinh doanh Việt Nam, giảm thiểu những bất ngờ và tăng cường sự tự tin, từ đó thúc đẩy khát vọng làm giàu của người trẻquyết định thành lập doanh nghiệp.

VI. Tương Lai Khởi Nghiệp Việt Phát Huy Khát Vọng Làm Giàu Của Người Trẻ

Tương lai của phong trào khởi nghiệp Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phát huy khát vọng làm giàu của người trẻ và biến những dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên thành hành động thực tiễn. Việt Nam đang ở trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng", với một lực lượng thanh niên Việt đông đảo, năng động và sáng tạo. Đây là nguồn lực quý giá cần được khai thác tối đa. Để đạt được mục tiêu có hàng triệu doanh nghiệp vào năm 2030, việc liên tục nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp nhằm thúc đẩy các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt là vô cùng cần thiết. Điều này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Sự phát triển của công nghệ và đổi mới trong khởi nghiệp sẽ tiếp tục mở ra nhiều cơ hội mới cho thanh niên Việt. Với khả năng tiếp thu công nghệ nhanh chóng, giới trẻ có thể tạo ra những sản phẩm và dịch vụ đột phá, khai thác hiệu quả thị trường tiềm năng cho startup Việt. Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần tiếp tục đầu tư vào giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam, trang bị kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên hiện đại và xây dựng một văn hóa khởi nghiệp Việt mạnh mẽ. Văn hóa khởi nghiệp không chỉ là việc chấp nhận rủi ro mà còn là tinh thần hợp tác, đổi mới, và sẵn sàng học hỏi từ thất bại. Như tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2019) đã nhấn mạnh, việc "Nâng cao nhận thức, thái độ của thanh niên về KSKD, hình thành thái độ tích cực của TNVN đối với hoạt động KSKD, giúp thanh niên nuôi dưỡng và phát triển ý định KSKD" là một trong những giải pháp quan trọng nhất.

Nhìn về phía trước, việc tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện, nơi mà rào cản khởi nghiệp giới trẻ Việt được giảm thiểu, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam được triển khai hiệu quả và mạng lưới kết nối khởi nghiệp hoạt động mạnh mẽ, sẽ là chìa khóa để thanh niên Việt phát huy tối đa tiềm năng. Các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt cần được xem xét một cách liên tục và thích ứng với bối cảnh mới, đảm bảo rằng mỗi quyết định thành lập doanh nghiệp của người trẻ đều có cơ hội thành công cao nhất, góp phần vào sự thịnh vượng chung của đất nước.

6.1. Tổng kết yếu tố tác động dự định khởi nghiệp và tầm nhìn phát triển

Tổng kết lại, các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt là một mạng lưới phức tạp của các yếu tố cá nhân và môi trường. Từ động lực khởi nghiệp thanh niên bên trong như khát vọng làm giàu của người trẻ, năng lực tự chủ thanh niên khởi nghiệp, tâm lý doanh nhân trẻthái độ đối với rủi ro khi khởi nghiệp, đến các yếu tố bên ngoài như giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam, môi trường kinh doanh Việt Nam, vốn khởi nghiệp cho người trẻ, và mạng lưới kết nối khởi nghiệp. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này giúp định hình tầm nhìn phát triển khởi nghiệp quốc gia. Tầm nhìn này hướng tới việc xây dựng một thế hệ thanh niên Việt không chỉ dám mơ ước mà còn có đủ kỹ năng khởi nghiệp cho thanh niên, nguồn lực và sự hỗ trợ để hiện thực hóa dự định khởi sự kinh doanh của mình. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cá nhân mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững cho đất nước.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo để nâng cao văn hóa khởi nghiệp Việt

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả của phong trào khởi nghiệp, các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc sâu sắc hơn các yếu tố tác động dự định khởi nghiệp của thanh niên Việt trong bối cảnh thay đổi liên tục của kinh tế và xã hội. Cần có những nghiên cứu định tính và định lượng mở rộng hơn về văn hóa khởi nghiệp Việt, đặc biệt là trong các vùng miền khác nhau hoặc các lĩnh vực cụ thể như công nghệ và đổi mới trong khởi nghiệp. Việc đánh giá tác động của các chương trình giáo dục khởi nghiệpchính sách hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam trên diện rộng sẽ cung cấp dữ liệu quý giá. Ngoài ra, cần khám phá thêm về vai trò của truyền thông khởi nghiệp trong việc hình thành và củng cố ý định khởi sự kinh doanh của giới trẻ, cũng như cách thức ảnh hưởng của gia đình đến khởi nghiệp có thể được điều chỉnh để tạo ra môi trường tích cực hơn. Những hướng nghiên cứu này sẽ góp phần xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp vững chắc, khuyến khích thanh niên Việt mạnh dạn hơn trong quyết định thành lập doanh nghiệp và khai thác tối đa thị trường tiềm năng cho startup Việt.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Vấn đề thúc đẩy khởi nghiệp hướng đến xây dựng quốc gia khởi nghiệp ở Việt Nam đang là vấn đề thời sự, được nhà nước và xã hội quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu mang tính học thuật ở trong nước còn rất hạn chế về mặt số lượng cũng như bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu. Các nhà khoa học từ kết quả nghiên cứu của mình đã đi đến sự thống nhất rằng dự định KSKD là tiền đề trực tiếp của hành vi KSKD, đây chính cơ sở để tiếp cận thiết kế nghiên cứu về dự định KSKD của TNVN. Mặt khác, kết quả tổng quan nghiên cứu chỉ ra khá nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau đề cập đến ảnh hưởng của các yếu tố đến dự định KSKD, tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp với TNVN chưa được nghiên cứu nào đề cập đến.

Đây là vấn đề thực tiễn đặt ra đòi hỏi cần nghiên cứu, làm rõ về mặt khoa học để cung cấp luận cứ chính xác nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên hiện nay, đồng thời có những giải pháp can thiệp để thúc đẩy hoạt động khởi sự kinh doanh của thanh niên trong bối cảnh hiện nay. 27 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH 2.1 Các khái niệm liên quan đến khởi sự kinh doanh của thanh niên 2.1 Thanh niên Cách hiểu về “thanh niên” Theo điều 1 của Luật thanh niên 2015 của Việt Nam, thanh niên được định nghĩa là “công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số điều luật liên quan khác như Điều 32, 33, 34 của Luật thanh niên 2005 quy định các tổ chức của thanh niên bao gồm “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam và các tổ chức khác của thanh niên được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của tổ chức và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nồng cốt trong phong trào thanh niên; tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

Theo Điều lệ Đoàn thanh niên, “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn”. Như vậy thanh niên cơ bản được hiểu giống như Luật thanh niên, có tuổi từ 16 đến 30 tuổi. Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên, nhằm đoàn kết tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên. Và theo điều lệ của Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam điều 5 quy định rằng “công dân Việt Nam từ 15 đến 35 tuổi tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội thì được xét công nhận là hội viên Hội LHTN Việt Nam”.

Như vậy, đối với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, khái niệm thanh niên được mở rộng hơn, là những người có độ tuổi từ 15 (vị thành niên) tới 35 tuổi. Theo nghiên cứu Chỉ số khởi sự doanh nghiệp toàn cầu (GEM), những người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) là đối tượng điều tra của khởi nghiệp vì họ có đủ năng lực hành vi cần thiết và có thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nghiên cứu này cũng quan niệm có 02 đối tượng người trưởng thành là thanh niên - từ 18 đến 34 tuổi và trung niên từ 35 đến 64 tuổi. Từ các căn cứ nêu trên, trong nghiên cứu này, thống nhất cách hiểu thanh niên là những người trưởng thành, có tuổi từ 18 tới 34 tuổi.

Nhu cầu khởi nghiệp của thanh niên Theo Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 28 2014 (Lương Minh Huân, 2015), thanh niên từ 18-34 tuổi là nhóm có tỷ lệ khởi sự kinh doanh cao hơn hẳn so với trung niên (35-64 tuổi). Thanh niên (18-34 tuổi) tuy nhận thức về khả năng kinh doanh thấp hơn trung niên (35-64 tuổi), nhưng họ lại là nhóm nhạy bén hơn về cơ hội kinh doanh, mạo hiểm hơn và có ý định khởi sự cao hơn và thực tế họ là nhóm người có tỷ lệ khởi sự doanh nghiệp cao hơn trung niên. Báo cáo về khởi nghiệp của người trẻ của OECD2 (Green, 2015) cũng cho rằng thanh niên là nhóm có tỷ lệ khởi nghiệp cao trong số những người trưởng thành. Mặc dù khởi nghiệp ở độ tuổi dưới 30 được xem là gặp nhiều khó khăn và có nhiều khả năng thất bại hơn so với những người khởi nghiệp ở độ tuổi trên 30.

Tuy nhiên, nhiều học giả, lại tin rằng giới trẻ có khả năng đặt biệt để tạo dựng nên những công ty mới thành công nhất. Jones và các cộng sự (2012) chỉ ra rằng những người trẻ có khả năng đưa ra những ý tưởng táo bạo - dù trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sáng chế, hay khởi nghiệp. Các trường hợp cá nhân nổi tiếng như Bill Gates, Steve Jobs và Mark Zuckerberg cho thấy rằng những người ở độ tuổi 20 có thể tạo ra những công ty hàng đầu thế giới. Các học giả nhận định rằng những người trẻ có cái nhìn sắc nét hơn, ít bị phân tâm bởi gia đình hay các trách nhiệm khác, và có nhiều ý tưởng linh hoạt, táo bạo, dám phá vỡ những nguyên tắc, lối đi thông thường (Weinberg, 2007).

Như vậy, thanh niên là nhóm đối tượng có tiềm năng và nhu cầu khởi nghiệp rất lớn, xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ về quá trình khởi sự doanh nghiệp và cách thức hỗ trợ họ để thành công. Khái niệm thanh niên thường được xác định theo khía cạnh lứa tuổi và tính chất của nhóm tuổi. Về nhóm tuổi, thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Liên Hợp Quốc), hoặc thanh niên có nghĩa là tất cả mọi người trong độ tuổi từ 15 đến 35 tuổi (UNESCO). Do sự khác biệt này, UNESCO cho rằng, độ tuổi thanh niên được hiểu linh hoạt hơn và sử dụng phù hợp với từng hoạt động và vùng lãnh thổ.

Về tính chất, thanh niên là giai giai đoạn chuyển đổi giữa sống phụ thuộc thời ấu thơ tới tuổi trưởng thành sống độc lập, và có nhận thức về sự tương tác như một thành viên của cộng đồng; đây là thời kỳ sung sức nhất của con người về thể chất, có sự phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, nhiều ước mơ hoài bão (Trần Văn Trang, 2019).2 Khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên 2.1 Khởi sự kinh doanh Thuật ngữ “khởi sự kinh doanh” xuất phát từ khái niệm “entrepreneur” (người khởi sự kinh doanh) trong tiếng Pháp. Tuy nhiên, chưa thực sự có định nghĩa về 29 KSKD được chấp nhận rộng rãi. Theo quá trình tổng quan tài liệu cho thấy KSKD được định nghĩa trên các góc độ tiếp cận, bối cảnh và chủ đích nghiên cứu khác nhau: - Dưới góc độ hình thành/bắt đầu một cái gì mới, thì khởi sự kinh doanh bao gồm các hoạt động cần thiết để tạo ra hoặc hình thành một doanh nghiệp mới (Leibenstein, 1968 & 1979) hoặc tạo ra một tổ chức mới (Gartner, 1988; Cromie, 2000). - Dưới góc độ doanh nhân/người chủ tổ chức (doanh nghiệp) mới, khởi sự kinh doanh là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu (Wortman, 1987), hoặc KSKD là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh (Macmillan, 1993).

"Khởi sự kinh doanh là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình" hoặc “Khởi sự kinh doanh là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình. Hơn nữa, Hisrich và Peters (2002) tuyên bố rằng KSKD có liên quan nhiều đến một số đặc điểm của cá nhân như khả năng sáng tạo, năng lực làm việc độc lập và khả năng đối mặt với rủi ro. - Dưới góc độ khai thác các cơ hội kinh doanh, KSKD là một quá trình một cá nhân nhìn nhận và đánh giá các cơ hội kinh doanh, thu thập các nguồn lực cần thiết và bắt đầu các hành động thích hợp để khai thác hiệu quả các cơ hội kinh doanh (Nwachukwu, 1990). KSKD cũng có thể hiểu là việc phát hiện ra cơ hội và tạo ra các hoạt động kinh tế mới, thường thông qua việc thành lập một tổ chức mới (Reynolds, 1995).

Tương tự KSKD là việc xác định và khai thác có hiệu quả cơ hội kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000), Khởi sự kinh doanh là một quá trình một cá nhân tìm kiếm cơ hội không cần xét đến những nguồn lực mà họ hiện đang kiểm soát (Baringer & Ireland, 2010); hay KSKD là sự sẵn lòng và khả năng của một cá nhân trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư; và có thể thành lập, điều hành một doanh nghiệp thành công dựa trên việc nhận biết cơ hội trong một môi trường kinh doanh (Okpara, 2000). Khởi sự kinh doanh là một quá trình một cá nhân tìm kiếm cơ hội không cần xét đến những nguồn lực mà họ hiện đang kiểm soát (Baringer và Ireland, 2010). - Dưới góc độ trách nhiệm xã hội, KSKD là quá trình làm mới và tạo ra sự khác biệt với mục đích đem lại sự giàu có cho cá nhân và tạo ra các giá trị mới cho xã hội. Sự hiểu biết này phản ánh chức năng xã hội của kinh doanh là mang lại lợi ích cho công chúng chứ không chỉ đơn thuần theo đuổi lợi nhuận cá nhân (Kao, 1993).

Điều này liên quan đến khái niệm về doanh nghiệp xã hội, đề cập đến hoạt động sáng tạo với mục tiêu xã hội trong khu vực lợi nhuận hoặc trong khu vực phi lợi nhuận, hoặc 30 trong các hình thức cấu trúc kết hợp hai ngành này (Dees, 1998). Đồng quan điểm đó, Tan và cộng sự (2005), cho rằng cần nhận thức KSKD từ khía cạnh xã hội, cụ thể KSKD không chỉ với mục đích tạo ra sự giàu có cho cá nhân và mà cần nhìn nhận KSKD ở những giá trị đem lại cho xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ