chương 1 Vấn đề thúc đẩy khởi nghiệp hướng đến xây dựng quốc gia khởi nghiệp ở Việt Nam đang là vấn đề thời sự, được nhà nước và xã hội quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu mang tính học thuật ở trong nước còn rất hạn chế về mặt số lượng cũng như bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu. Các nhà khoa học từ kết quả nghiên cứu của mình đã đi đến sự thống nhất rằng dự định KSKD là tiền đề trực tiếp của hành vi KSKD, đây chính cơ sở để tiếp cận thiết kế nghiên cứu về dự định KSKD của TNVN. Mặt khác, kết quả tổng quan nghiên cứu chỉ ra khá nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau đề cập đến ảnh hưởng của các yếu tố đến dự định KSKD, tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp với TNVN chưa được nghiên cứu nào đề cập đến.
Đây là vấn đề thực tiễn đặt ra đòi hỏi cần nghiên cứu, làm rõ về mặt khoa học để cung cấp luận cứ chính xác nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên hiện nay, đồng thời có những giải pháp can thiệp để thúc đẩy hoạt động khởi sự kinh doanh của thanh niên trong bối cảnh hiện nay. 27 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH 2.1 Các khái niệm liên quan đến khởi sự kinh doanh của thanh niên 2.1 Thanh niên Cách hiểu về “thanh niên” Theo điều 1 của Luật thanh niên 2015 của Việt Nam, thanh niên được định nghĩa là “công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số điều luật liên quan khác như Điều 32, 33, 34 của Luật thanh niên 2005 quy định các tổ chức của thanh niên bao gồm “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam và các tổ chức khác của thanh niên được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của tổ chức và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nồng cốt trong phong trào thanh niên; tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
Theo Điều lệ Đoàn thanh niên, “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn”. Như vậy thanh niên cơ bản được hiểu giống như Luật thanh niên, có tuổi từ 16 đến 30 tuổi. Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên, nhằm đoàn kết tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên. Và theo điều lệ của Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam điều 5 quy định rằng “công dân Việt Nam từ 15 đến 35 tuổi tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội thì được xét công nhận là hội viên Hội LHTN Việt Nam”.
Như vậy, đối với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, khái niệm thanh niên được mở rộng hơn, là những người có độ tuổi từ 15 (vị thành niên) tới 35 tuổi. Theo nghiên cứu Chỉ số khởi sự doanh nghiệp toàn cầu (GEM), những người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) là đối tượng điều tra của khởi nghiệp vì họ có đủ năng lực hành vi cần thiết và có thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nghiên cứu này cũng quan niệm có 02 đối tượng người trưởng thành là thanh niên - từ 18 đến 34 tuổi và trung niên từ 35 đến 64 tuổi. Từ các căn cứ nêu trên, trong nghiên cứu này, thống nhất cách hiểu thanh niên là những người trưởng thành, có tuổi từ 18 tới 34 tuổi.
Nhu cầu khởi nghiệp của thanh niên Theo Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 28 2014 (Lương Minh Huân, 2015), thanh niên từ 18-34 tuổi là nhóm có tỷ lệ khởi sự kinh doanh cao hơn hẳn so với trung niên (35-64 tuổi). Thanh niên (18-34 tuổi) tuy nhận thức về khả năng kinh doanh thấp hơn trung niên (35-64 tuổi), nhưng họ lại là nhóm nhạy bén hơn về cơ hội kinh doanh, mạo hiểm hơn và có ý định khởi sự cao hơn và thực tế họ là nhóm người có tỷ lệ khởi sự doanh nghiệp cao hơn trung niên. Báo cáo về khởi nghiệp của người trẻ của OECD2 (Green, 2015) cũng cho rằng thanh niên là nhóm có tỷ lệ khởi nghiệp cao trong số những người trưởng thành. Mặc dù khởi nghiệp ở độ tuổi dưới 30 được xem là gặp nhiều khó khăn và có nhiều khả năng thất bại hơn so với những người khởi nghiệp ở độ tuổi trên 30.
Tuy nhiên, nhiều học giả, lại tin rằng giới trẻ có khả năng đặt biệt để tạo dựng nên những công ty mới thành công nhất. Jones và các cộng sự (2012) chỉ ra rằng những người trẻ có khả năng đưa ra những ý tưởng táo bạo - dù trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sáng chế, hay khởi nghiệp. Các trường hợp cá nhân nổi tiếng như Bill Gates, Steve Jobs và Mark Zuckerberg cho thấy rằng những người ở độ tuổi 20 có thể tạo ra những công ty hàng đầu thế giới. Các học giả nhận định rằng những người trẻ có cái nhìn sắc nét hơn, ít bị phân tâm bởi gia đình hay các trách nhiệm khác, và có nhiều ý tưởng linh hoạt, táo bạo, dám phá vỡ những nguyên tắc, lối đi thông thường (Weinberg, 2007).
Như vậy, thanh niên là nhóm đối tượng có tiềm năng và nhu cầu khởi nghiệp rất lớn, xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ về quá trình khởi sự doanh nghiệp và cách thức hỗ trợ họ để thành công. Khái niệm thanh niên thường được xác định theo khía cạnh lứa tuổi và tính chất của nhóm tuổi. Về nhóm tuổi, thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Liên Hợp Quốc), hoặc thanh niên có nghĩa là tất cả mọi người trong độ tuổi từ 15 đến 35 tuổi (UNESCO). Do sự khác biệt này, UNESCO cho rằng, độ tuổi thanh niên được hiểu linh hoạt hơn và sử dụng phù hợp với từng hoạt động và vùng lãnh thổ.
Về tính chất, thanh niên là giai giai đoạn chuyển đổi giữa sống phụ thuộc thời ấu thơ tới tuổi trưởng thành sống độc lập, và có nhận thức về sự tương tác như một thành viên của cộng đồng; đây là thời kỳ sung sức nhất của con người về thể chất, có sự phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, nhiều ước mơ hoài bão (Trần Văn Trang, 2019).2 Khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh của thanh niên 2.1 Khởi sự kinh doanh Thuật ngữ “khởi sự kinh doanh” xuất phát từ khái niệm “entrepreneur” (người khởi sự kinh doanh) trong tiếng Pháp. Tuy nhiên, chưa thực sự có định nghĩa về 29 KSKD được chấp nhận rộng rãi. Theo quá trình tổng quan tài liệu cho thấy KSKD được định nghĩa trên các góc độ tiếp cận, bối cảnh và chủ đích nghiên cứu khác nhau: - Dưới góc độ hình thành/bắt đầu một cái gì mới, thì khởi sự kinh doanh bao gồm các hoạt động cần thiết để tạo ra hoặc hình thành một doanh nghiệp mới (Leibenstein, 1968 & 1979) hoặc tạo ra một tổ chức mới (Gartner, 1988; Cromie, 2000). - Dưới góc độ doanh nhân/người chủ tổ chức (doanh nghiệp) mới, khởi sự kinh doanh là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu (Wortman, 1987), hoặc KSKD là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh (Macmillan, 1993).
"Khởi sự kinh doanh là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình" hoặc “Khởi sự kinh doanh là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình. Hơn nữa, Hisrich và Peters (2002) tuyên bố rằng KSKD có liên quan nhiều đến một số đặc điểm của cá nhân như khả năng sáng tạo, năng lực làm việc độc lập và khả năng đối mặt với rủi ro. - Dưới góc độ khai thác các cơ hội kinh doanh, KSKD là một quá trình một cá nhân nhìn nhận và đánh giá các cơ hội kinh doanh, thu thập các nguồn lực cần thiết và bắt đầu các hành động thích hợp để khai thác hiệu quả các cơ hội kinh doanh (Nwachukwu, 1990). KSKD cũng có thể hiểu là việc phát hiện ra cơ hội và tạo ra các hoạt động kinh tế mới, thường thông qua việc thành lập một tổ chức mới (Reynolds, 1995).
Tương tự KSKD là việc xác định và khai thác có hiệu quả cơ hội kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000), Khởi sự kinh doanh là một quá trình một cá nhân tìm kiếm cơ hội không cần xét đến những nguồn lực mà họ hiện đang kiểm soát (Baringer & Ireland, 2010); hay KSKD là sự sẵn lòng và khả năng của một cá nhân trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư; và có thể thành lập, điều hành một doanh nghiệp thành công dựa trên việc nhận biết cơ hội trong một môi trường kinh doanh (Okpara, 2000). Khởi sự kinh doanh là một quá trình một cá nhân tìm kiếm cơ hội không cần xét đến những nguồn lực mà họ hiện đang kiểm soát (Baringer và Ireland, 2010). - Dưới góc độ trách nhiệm xã hội, KSKD là quá trình làm mới và tạo ra sự khác biệt với mục đích đem lại sự giàu có cho cá nhân và tạo ra các giá trị mới cho xã hội. Sự hiểu biết này phản ánh chức năng xã hội của kinh doanh là mang lại lợi ích cho công chúng chứ không chỉ đơn thuần theo đuổi lợi nhuận cá nhân (Kao, 1993).
Điều này liên quan đến khái niệm về doanh nghiệp xã hội, đề cập đến hoạt động sáng tạo với mục tiêu xã hội trong khu vực lợi nhuận hoặc trong khu vực phi lợi nhuận, hoặc 30 trong các hình thức cấu trúc kết hợp hai ngành này (Dees, 1998). Đồng quan điểm đó, Tan và cộng sự (2005), cho rằng cần nhận thức KSKD từ khía cạnh xã hội, cụ thể KSKD không chỉ với mục đích tạo ra sự giàu có cho cá nhân và mà cần nhìn nhận KSKD ở những giá trị đem lại cho xã hội.