Chương 1: Giới thiệu. Nêu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. 4 Nêu mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, quy tình nghiên cứu và cấu trúc của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Trình bày các lý thuyết nền liên quan đến vấn đề nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nêu rõ khoảng trống cần nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Trình bày các phương pháp nghiên cứu để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, trình bày mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu sử dụng cho đề tài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận các kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tổng kết lại các kết quả nghiên cứu chính, đề xuất kiến nghị xuất phát từ các kết quả nghiên cứu và nêu những hạn chế của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Hiệu suất tài chính của Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Theo Hoàng Vy (2020), thì Hiệu suất tài chính (tiếng Anh: Financial performance) là thước đo chủ quan về việc một công ty có thể sử dụng tài sản từ phương thức kinh doanh chính và tạo ra doanh thu tốt như thế nào. Thuật ngữ này cũng được sử dụng như một thước đo chung về sức khoẻ tài chính tổng thể của một công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Có nhiều cách để đo lường hiệu suất tài chính, nhưng tất cả các biện pháp đó nên được thực hiện một cách tổng hợp.
Hiệu suất tài chính có thể được đo lường bằng doanh thu từ hoạt động, thu nhập hoạt động hoặc dòng tiền từ hoạt động, cũng như tổng doanh số tính bằng đơn vị. Hơn nữa, nhà phân tích hoặc nhà đầu tư có thể muốn đánh giá sâu hơn báo cáo tài chính và tìm kiếm tỉ lệ tăng trưởng biên hoặc bất kì khoản nợ giảm nào. Có nhiều bên liên quan trong một công ty, bao gồm chủ nợ thương mại, trái chủ, nhà đầu tư, nhân viên và quản lí. Mỗi nhóm có một mục đích và mối quan tâm riêng khi theo dõi hiệu suất tài chính của một công ty.
Các nhà phân tích tìm hiểu về hiệu suất tài chính từ dữ liệu được công ty công bố, còn được gọi là báo cáo hàng năm, cung cấp một cái nhìn tổng quan về hiệu suất tài chính của công ty. Nguồn thông tin toàn diện nhất về hiệu quả tài chính được thể hiện trong 3 loại báo cáo tài chính: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất tài chính của các Ngân hàng thương mại. Các hệ số ROA và ROE là những chỉ số báo hiệu cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh khả năng lợi nhuận mà ngân hàng đạt được trong các kỳ kế toán đã qua.
6 Có 3 chỉ tiêu thường dùng để phản ánh vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suật lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Theo Phan Đức Dũng (2008), tỷ số lợi nhuận trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ.
Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán. Công thức được xác định như sau : Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa (2007), nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Tỷ số lợi nhuận trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh. Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Theo Phan Đức Dũng (2008) và Nguyễn Minh Kiều (2009), tỷ số lợi nhuận trên doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của công ty. Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho cổ đông và doanh thu của công ty. Công thức tính tỷ số này như sau: Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận ròng/ Doanh thu Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn.
Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình 7 sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau.
Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2007). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn ở một công ty. Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty, tính trong một thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay 1 năm) gọi là kỳ báo cáo. Còn vốn trong tỷ số này là vốn phổ thông (common equity).
Công thức của tỷ số này như sau: Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận ròng/ Vốn chủ sở hữu Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2007). Ý nghĩa hiệu suất tài chính Hiệu suất tài chính của là một vấn đề quan tâm của cả nhà đầu tư bên trong, bên ngoài doanh nghiệp cũng như các bên liên quan. Thật vậy, thông qua việc đánh giá hiệu quả tài chính, nhà đầu tư sẽ định hướng đúng để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý cũng như có bước điều chỉnh nguồn vốn phù hợp.
Các Yếu tố tác động đến hiệu suất tài chính của ngân hàng thương mại 2. Môi trường bên ngoài Môi trường vĩ mô. Các yếu tố kinh tế có tác động đến khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định và phát triển vững mạnh của các ngân hàng thương mại. Bất cứ sự biến động nào của lạm phát, tăng trưởng kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ,… cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, thậm chí còn tạo ra khủng hoảng do tác động lây lan của kinh tế thị trường.
8 Tăng trưởng kinh tế (GDP): cao hay thấp đều tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của cả hệ thống ngân hàng thương mại. Tác động rõ rệt nhất của tăng trưởng kinh tế đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại là tác động đến hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Gắn với quá trình tăng trưởng cao là nhu cầu vốn cũng tăng cao. Tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, an toàn và hiệu quả chính là nền tảng để hoạt động của ngân hàng có hiệu quả.
Các yếu tố xã hội, văn hóa: tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như trình độ dân trí, tập quán sử dụng tiền mặt và sự hiểu biết của người dân về hệ thống ngân hàng. Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh đều tìm hiểu phong tục tập quán, các yếu tố văn hóa đặc trưng của dân tộc đó. Yếu tố này tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, các ngân hàng Việt Nam sẽ phát huy được ưu thế này vì không ai hiểu rõ Việt Nam bằng người Việt.
Các yếu tố chính trị, chính sách và pháp luật: Nếu hệ thống pháp luật (Luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, quy định,…) minh bạch, rõ ràng, kịp thời, đồng bộ, và hiệu lực sẽ có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương. Từ đó các ngân hàng thương mại mới huy được quyền chủ động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh và yên tâm rằng mình đã thực hiện đúng pháp luật. Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng đa dạng, biến đổi và phát triển không ngừng, vì vậy hệ thống pháp lý định kỳ phải bổ sung, điều chỉnh một cách kịp thời cho phù hợp với thực tiễn. Yếu tố khoa học, công nghệ: Với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, tiện lợi nhất, nhanh chóng và kịp thời sẽ thuận lợi hơn trong việc thu hút khách hàng, từ đó làm cho hiệu quả hoạt động được nâng cao.