Chương 1 đã đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Các chương tiếp theo sẽ trình bày cụ thể, chi tiết hơn từng bước quá trình nghiên cứu này cũng như kết quả thực tiễn của đề tài. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm 2.1 Cạnh tranh - Thuật ngữ cạnh tranh được xem là một phạm trù kinh tế và được sử dụng phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thương mại… Thuật ngữ này còn được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành hay quốc gia… Do vậy cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: - Theo Neufeldt (1996) thì thuật ngữ “cạnh tranh” (compete), có nguồn gốc từ tiếng Latin: Competere, biểu thị sự đua tranh, ganh đua giữa các đối tuợng có cùng phẩm chất (hay cùng loại, cùng giá trị) nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định. Nhận định của Porter (2008) thì “cạnh tranh là tạo ra năng suất và năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng và đặc điểm của sản phẩm”.
Có thể nói khả năng cạnh tranh và năng suất mới có thể đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế lâu dài. Do đó, các nền kinh tế cần xây dựng và nuôi dưỡng môi truờng kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh, cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc giải phóng sức cạnh tranh trong nội bộ. - Luật Cạnh tranh (2005) đã cụ thể hóa các quan điểm về cạnh tranh và đưa ra một số giải thích thuật ngữ cạnh tranh như sau: Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế pháp lý, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua giữa các thành viên cùng một thị truờng nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị truờng hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị truờng. Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế xã hội (Nguyễn Nam Thắng, 2015). 8 Tại từ điển Bách Khoa Việt Nam “Cạnh tranh” (trong hoạt động kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. - Theo Chu Văn Cấp (2003) thì cạnh tranh cũng là động lực nâng cao hiệu quả của mỗi nền kinh tế, ngược lại ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.
Một cách chung nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế của nền kinh tế thị truờng, cùng theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi ích. Với người sản xuất, đó là lợi nhuận. Còn đối với nguời tiêu dùng, đó là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Từ những định nghĩa và quan niệm nêu trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của đất nước, địa phương, doanh nghiệp.
Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước. Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mặt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào vấn đề cạnh tranh.2 Năng lực cạnh tranh Những khái niệm liên quan đến NLCT ngày càng nhận được sự quan tâm và được thảo luận trong nhiều chương trình nghị sự của chính phủ mỗi quốc gia cũng như trên diễn đàn quốc tế. Tuy nhiên đến nay, khái niệm về NLCT qua tìm hiểu thì chưa có khái niệm thống nhất. Trong nghiên cứu này chỉ đưa ra vài quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu: - Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (Trần Thanh Hải et al., 2005) đã nêu “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về kinh tế”.
Theo Tôn Thất Nguyễn 9 Thiêm (2003) lập luận rằng NLCT là việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp. - Theo Porter (1985) lập luận NLCT là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận. Riêng Poot (2000) nhận định NLCT là những hành động được thực hiện bởi các đại diện kinh tế ở một khu vực địa lý cụ thể để đảm bảo sự tăng lên trong tiêu chuẩn cuộc sống cho những cư dân của mỗi địa hạt lãnh thổ đó và Poot đã sử dụng thuật ngữ này để nhấn mạnh sự thật rằng cạnh tranh địa hạt lãnh thổ có thể diễn ra tại nhiều cấp độ khác nhau: Cấp độ thành phố, cấp độ từng khu vực lãnh thổ trong một quốc gia và cạnh tranh ở cấp độ quốc gia. Theo Schwab (2007), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định năng suất của một thành phố hay một vùng lãnh thổ.
Sử dụng năng suất là thước đo cơ bản, khái niệm NLCT vì vậy sẽ bao gồm cả mức độ tăng trưởng kinh tế và khả năng tăng trưởng bền vững. - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, gọi tắt là OECD (2013) định nghĩa NLCT là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”. Khi nghiên cứu NLCT, người ta thường phân biệt NLCT theo 4 cấp độ: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Trong nghiên cứu này chỉ tham khảo về NLCT doanh nhiệp.3 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Có nhiều khung lý thuyết dùng để nghiên cứu và phân tích NLCT ở cấp độ doanh nghiệp đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam sử dụng để phân tích các yếu tố góp phần tạo nên NLCT của doanh nghiệp trong môi trường kinh 10 doanh có nhiều thay đổi.
Trong nghiên cứu này chỉ trích dẫn một số khái niệm chủ yếu liên quan đến NLCT của doanh nghiệp nhằm làm rõ hơn về vấn đề này. - NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó Porter (1998) nhận định NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Ông nêu thêm NLCT là “để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả hơn”. Quan niệm của Porter không chỉ đề cập đến vấn đề NLCT mà còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, doanh nghiệp phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường. Việc hạ thấp giá thành sản phẩm để nâng cao NLCT theo quan niệm mang tính dài hạn này của Porter cũng như đại đa số các nhà nghiên cứu khác không bao gồm việc hạ thấp giá thành bằng những biện pháp có tính tiêu cực như cắt giảm lương nhân viên, cắt giảm chi phí bảo hộ lao động, cắt giảm chi phí phúc lợi, chi phí môi trường,.
NLCT phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Một số nhà nghiên cứu trong nước dựa trên quan điểm của Porter (1998) để đưa ra định nghĩa trong nghiên cứu về NLCT của mình như: Nguyễn Minh Tuấn (2010) lập luận rằng, NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển bền vững. Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Lê Công Hoa và Lê Chí Công (2006) thì NLCT của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi 11 thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
- NLCT của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp với nguồn lực của doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Sanchez và Heene (1996) nhận định NLCT của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó. Như vậy, NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Nó trước hết phải được tạo từ thực lực của doanh nghiệp.