mở đầu cho bi kịch hoàng gia. Văn học thời Minh - Thanh Trung Quốc cũng có những tác giả thành công khi sử dụng yếu tố huyền ảo trong tác phẩm tạo nên những tiểu thuyết cổ điển có sức sống bền lâu (Tây du ký - Ngô Thừa Ân, Liêu trai chí dị - Bồ Tùng Linh…). Ở văn học hiện đại, dù tư duy khoa học rất phát triển, nhưng yếu tố huyền ảo lại hồi sinh, xuất hiện một cách đậm đặc trong sáng tác của các tác giả Châu Âu (đại diện là Franz Kafka (Áo-Hung)), châu Á (đại diện là Rabindranath Tagore (Ấn Độ), Yasunari Kawabata (Nhật Bản), đặc biệt là các nhà văn châu Mỹ Latin (đại diện tiêu biểu là Gárcia Márquez)… Lúc này, từ “huyền ảo” được sử dụng rộng rãi trong nền văn học hiện đại để chỉ những điều kì lạ, huyền diệu xảy ra trong cuộc đời thực. Đó là việc con người biến thành bọ trong Hóa thân của Franz Kafka; là những biểu tượng về cái đẹp siêu thực trong tác phẩm của Tagore hay Kawabata; là con người có cánh, người hóa nhện của Márquez,… Điều này dẫn đến hình thành Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học hiện đại.
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (Tiếng Tây Ban Nha: realismo mágico) là trào lưu văn học quan trọng của văn học châu Mỹ Latin, xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX. Các nhà văn của trào lưu này thường mượn những truyền thuyết dân gian cổ xưa để tạo ra các huyền thoại mới về hiện thực xã hội châu Mỹ Latin. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán khi viết về Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cho rằng: Nguyên tắc sáng tác của các nhà văn là “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực”. Để gây hiệu quả hoang đường, các tác giả thường sử dụng hình tượng biểu trưng, ngụ ý, liên tưởng, ám thị, phóng đại, khoa trương, người và hồn ma bất phân, trật tự thời gian bị xáo trộn, thực và ảo hòa quyện.
Lăng kính huyền thoại đã giúp các nhà văn vạch trần hiện thực đen tối tàn bạo của các chế độ độc tài, phê phán tình trạng khép kín văn hóa, đoạn tuyệt giao lưu.) Họ thường dùng hồn ma vạch mặt bọn chủ trang trại tàn bạo, mượn thần 12 linh chỉ trích, chế giễu bọn độc tài bất lực, ngu độn, thậm chỉ mượn phù thủy trêu chọc các nhà thống trị [27, tr. Dòng văn học Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có ảnh hưởng rộng lớn đến các sáng tác văn học hiện đại trên thế giới. Sự ảnh hưởng này mang lại những màu sắc rất riêng cho từng nền văn học, bởi yếu tố huyền ảo trong văn học xuất phát từ những huyền thoại của từng dân tộc, từ đó nhà văn viết lại những huyền thoại mới. Theo Phan Tuấn Anh trong Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo trong văn học hậu hiện đại thì “Ở Việt Nam, có thể chưa hình thành một trào lưu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nhưng sự tham gia của yếu tố huyền ảo vào trong tác phẩm (…) đã tạo ra nhiều hiệu ứng thẩm mỹ và cảm quan mới về thực tại” [69].
Từ những ghi nhận trên, chúng tôi có thể kết luận như sau: Thứ nhất, yếu tố huyền ảo được dùng trong văn học, đặc điểm của yếu tố huyền ảo trong văn học là sự kết hợp giữa thực và ảo, người và ma (hay thần, tiên) bất phân, sử dụng môtip dân gian hoặc biểu tượng ám thị, không gian thực - ảo hòa quyện, trật tự thời gian bị xáo trộn, kể chuyện đa chủ thể. Thứ hai, dù văn học Việt Nam chưa hình thành Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nhưng yếu tố huyền ảo vẫn xuất hiện trong từng tác phẩm, ở từng giai đoạn, khi nhà văn kết hợp giữa chất liệu lịch sử đời sống và những điều hoang đường, huyền bí nhằm thể hiện một dụng ý, ám dụ nghệ thuật. Phân biệt “kì ảo” và “huyền ảo” trong văn học 1. Thuật ngữ “kì ảo” cũng có hai từ tố: “kì” (奇) và “ảo” (幻).
Cũng theo Từ điển Hán - Việt (http://hvdic.net/), thì Từ điển phổ thông định nghĩa từ tố “kì” là “kì lạ, lạ lùng”. Trong Tự điển Tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “kì” là “lạ đến mức làm người khác phải ngạc nhiên”, và “kì ảo” là “kì lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng tượng” [23, tr. Xét về thuật ngữ, “huyền ảo” và “kì ảo” giống nhau ở chỗ đều không có thật; nhưng khác nhau ở chỗ, “kì ảo” là cái kì lạ, khác thường, còn “huyền ảo” là cái hoang đường, bí ẩn, hàm chứa ý nghĩa sâu xa. Thuật ngữ “kì ảo” còn có tên tiếng Anh là “fantasy”, nghĩa là sự tưởng tượng, ảo tưởng, ảo ảnh dị thường.
Thuật ngữ này được dịch từ “phantasia” trong tiếng Latin 13 mang nghĩa điều tưởng tượng, về sau được hiểu như những hư huyễn, ma quỷ. Theo Lê Nguyên Long trong Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học thì: “Về mặt từ nguyên học, chữ ‘fantastic’ (tiếng Pháp: fantastique, tiếng Latin: phantasticus), xuất hiện trong tiếng Anh Trung cổ thế kỷ XIV, vốn có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ‘phantastikos’, có nghĩa là ‘tạo ra những hình ảnh thuộc về tinh thần’, chữ ‘phantazein’, nghĩa là ‘xuất hiện trong tâm trí’” [71]. Theo Todorov trong Dẫn luận về văn chương kì ảo, cái kì ảo là sự kiện không thể giải thích được bằng những quy luật của chính cái thế giới quen thuộc này. (…) Người cảm nhận sự kiện phải lựa chọn một trong hai giải pháp: hoặc đây chỉ là ảo ảnh của giác quan, một sản phẩm của tưởng tượng và những quy luật của thế giới này vẫn vậy; hoặc quả thật sự kiện đã diễn ra, nó là bộ phận của toàn bộ thực tế, nhưng bây giờ thực tế ấy lại được điều hành bởi những quy luật mà chúng ta không biết.
(…) Cái kì ảo chiếm lĩnh thời gian của sự mơ hồ ấy: tới khi chọn lấy một trong hai giải đáp, ta đã rời bỏ cái kì ảo để đi vào một thể loại cận kề, cái lạ hoặc cái thần tiên. Cái kì ảo đó là sự lưỡng lự cảm nhận bởi một con người chỉ biết có các quy luật tự nhiên, đối diện với một hiện tượng bên ngoài mang tính siêu nhiên [57, tr. Từ những quan niệm trên, có thể thấy các tác giả cơ bản thống nhất rằng “kì ảo” là cái không có thật, được con người tưởng tượng hay cảm nhận bằng cảm quan siêu nhiên, và kì ảo trong văn học tạo ra khoái cảm sợ hãi cho người đọc. Về phân biệt giữa “kì ảo” và “huyền ảo”, Lê Huy Bắc trong công trình Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Gárcia Márquez đã tổng kết và trình bày các vấn đề về cái kì ảo - tác giả gọi là cái huyễn ảo.
Theo đó, ông dùng thuật ngữ “văn học huyễn ảo” để bao quát các dạng thức văn học thần ma, gothic, kinh dị, ma quỷ, phi thường, siêu nhiên, kì ảo và huyền thoại. Văn học huyễn ảo xuất hiện từ khi con người biết sáng tác văn chương, tuy nhiên nó là một trào lưu chứ không thể là một thể loại [5, tr. Sau đó, Lê Huy Bắc trình bày các giai đoạn của văn học huyễn ảo như sau: Thời Quan niệm về Thái độ STT Đặc điểm Tên gọi Tác giả gian cái huyền ảo về cái 14 huyền ảo Cổ đại - Cái huyền Thần Ma quỷ, siêu Khuyết 1 Thế kỷ tưởng (the thoại, cổ nhiên, thần Không sợ danh thứ XIII mythical) tích bí,. là ta Ma quỷ, siêu Thế kỷ Cái kì ảo Shakespear, Văn học nhiên, thần 2 XIV - (the Hoffmann, Sợ hãi kì ảo bí,.
không XIX fantastic) Poe, Balzac phải là ta Ma quỷ, siêu Cái huyền Kafka, nhiên, thần Vừa sợ Thế kỷ Văn học 3 tưởng (the Borges, bí,. vừa là ta vừa không XX - nay huyền ảo mythical) Márquez vừa không sợ phải là ta Có thể thấy bảng hệ thống của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc khá rõ ràng và mạch lạc, khái niệm “huyễn ảo” đã bao quát được các dạng thức mà những nhà nghiên cứu trước đây ít nhiều đề cập đến ở nhiều chừng mực, mức độ. Nhưng trong quan niệm của mình, Lê Huy Bắc đã đồng nhất “kì ảo” và “huyền ảo” (hay còn gọi là “huyễn ảo”) và cho rằng văn học huyền ảo chỉ xuất hiện từ thế kỷ XX. Trong Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo trong văn học hậu hiện đại, Phan Tuấn Anh là người đưa ra sự phân biệt giữa “huyền thoại”, “kì ảo” và “huyền ảo”: Chúng ta cần phân biệt cái huyền thoại (mythical), cái kì ảo (fantastic) và cái huyền ảo (magical) trong nghiên cứu “văn học huyễn ảo” - với tư cách một kiểu sáng tác xuyên suốt tiến trình văn học, có đặc trưng nghệ thuật là sự hòa quyện giữa cái thực và cái ảo.
Theo đó, đặc tính thẩm mỹ tương ứng của giai đoạn phát triển của kiểu sáng tác văn học huyễn ảo là: huyền thoại: không sợ hãi; kì ảo: sợ hãi; huyền ảo: vừa sợ lại vừa không sợ, mang tính giễu nhại [69]. 15 Từ những quan điểm trên, chúng tôi thấy, vấn đề khái niệm “kì ảo” và “huyền ảo” về cơ bản một số nhà nghiên cứu cho là giống nhau, chỉ khác tên gọi cho từng giai đoạn văn học kì ảo nói chung. Về điểm này, chúng tôi đồng tình với nhận định của Lê Huy Bắc, và xem đây là cơ sở lí luận để chúng tôi nghiên cứu đề tài. Nhưng trong phạm vi đề tài, chúng tôi không bàn đến trào lưu hay giai đoạn văn học kì ảo mà chỉ xét yếu tố huyền ảo trong truyện, ký Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX.
Xét về khái niệm, chúng tôi thấy rằng, giữa “huyền ảo” và “kì ảo” không khác nhau lắm, bởi “huyền ảo” vẫn phải mượn “kì ảo” làm chất liệu. Tuy nhiên, “huyền ảo” không hoàn toàn tưởng tượng về một thế giới siêu thực mà phải xuất phát từ cái thực của lịch sử, đời sống hoặc mượn cái ảo để làm biểu tượng ám dụ, hàm ý sâu xa. Từ đó, yếu tố “huyền ảo” gây cảm giác lưỡng lự - nửa tin nửa ngờ, vừa sợ vừa không sợ - ở người đọc. Xét về phương thức biểu hiện, yếu tố “kì ảo” thiên về phô diễn hình thức bên ngoài, rất dễ thấy còn yếu tố “huyền ảo’ thiên về hàm chứa nội dung bên trong, phải nhìn thật kĩ mới phát hiện được.
Ở một góc độ nào đó, có thể xem “kì ảo” là chất liệu sáng tác văn học, nghiêng về trí tưởng tượng phong phú của con người; còn “huyền ảo” là phương thức sáng tác văn học, nghiêng về nhận thức, quan niệm của con người.