Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 nhằm giới thiệu cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Trên cơ sở này, một mô hình lý thuyết và các giả thuyết được xây dựng. Chương này bao gồm hai phần chính: (1) cơ sở lý thuyết về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ; (2) mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.
Ý định hành vi (Behavioural Intention – BI) Theo lý thuyết hành vi hoạch định (Theory of Plan Behaviour – TPB) thì ý định là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi (Ajzen, 1991). Hay nói cách khác, nghiên cứu về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ sẽ cho dự đoán tốt đối với hành vi nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Theo Ajzen (1991, trang 181), ý định được giả định là “bao gồm các yếu tố động lực có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Như một quy tắc chung, mỗi cá nhân có ý định càng mạnh để tham gia vào một hành vi, thì cá nhân đó càng có nhiều khả năng sẽ thực hiện thành công hành vi đó.
Ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi bà mẹ sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (Hussein, 2012; Mutuli và Walingo, 2014). Các lý thuyết về ý định hành vi Nuôi con bằng sữa mẹ có thể được coi là hành vi tâm lý xã hội con người. Vì vậy, có một nền tảng tâm lý và kiến thức về hành vi con người là điều cần thiết cho các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe để đạt được mục tiêu chiến lược tốt hơn khi xây dựng các chương trình khuyến khích thực hành nuôi con bằng sữa mẹ. Một số lý thuyết đã được đề xuất để nghiên cứu ý định hành vi con người trong những năm gần đây như: thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA), thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB), thuyết cho con bú LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory - BSET) là những lý thuyết được sử dụng rộng rãi nhất.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Sheppard và cộng sự, 1988). Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Ý định của một cá nhân là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: một cá nhân trong trạng thái tự nhiên (thái độ hướng tới hành vi) và phản ánh ảnh hưởng từ xã hội (chuẩn chủ quan). Niềm tin về lợi ích của hành vi Thái độ Đánh giá về kết quả thực hiện Ý định hành vi Hành vi Niềm tin theo chuẩn Chuẩn chủ quan Động cơ tuân thủ Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975).
Trong đó: - Thái độ (Attitude toward behaviour - AB): là một yếu tố quyết định của ý định hành vi. Nó được định nghĩa bởi “cá nhân đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện mục tiêu” (Fishbein và Ajzen, 1975, trang 216). Dựa trên TRA, thái độ là một chức năng của niềm tin. Niềm tin làm nền tảng cho thái độ của một cá nhân đối với hành vi được gọi là niềm tin về hành vi (Fishbein, 1980).
- Chuẩn chủ quan (Subjective norm - SN): là “nhận thức của cá nhân về những ảnh hưởng xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991, trang 188). Chuẩn chủ quan được xác định bởi nhận thức của cá nhân về việc nhận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 được những khuyến khích của người thân, bạn bè và xã hội để thực hiện hành vi. Ảnh hưởng xã hội được đo bằng cách đánh giá của các nhóm xã hội khác nhau. Do đó, niềm tin theo chuẩn tương tự như chuẩn chủ quan, ngoại trừ việc nó liên quan đến các nhóm hoặc các cá nhân cụ thể, các nhóm hoặc các cá nhân này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với từng tình huống hành vi cụ thể (Ajzen và Fishbein, 1980).
Cơ sở giả định của TRA là cá nhân hành động có lý trí và cá nhân thường xem xét những ảnh hưởng đến hành vi của họ trước khi họ quyết định thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định; nói cách khác, hành vi thường được lý giải trước (Fishbein, 1980). Sheppard và cộng sự (1988) đã đề xuất một số hạn chế trong TRA: - Thứ nhất, khi hành vi của một cá nhân không phải là dưới sự kiểm soát của ý chí, TRA có thể không dự đoán chính xác hành vi của cá nhân đó. Nói cách khác, nhiều trở ngại tiềm năng mà có thể ngăn chặn một ý chí của cá nhân xuất hiện, chẳng hạn như thời gian, nguồn lực và sự sẵn có của sản phẩm. - Thứ hai, khi tình huống liên quan đến một vấn đề lựa chọn, TRA tập trung vào các yếu tố quyết định và thực hiện một hành vi đơn lẻ; tuy nhiên, cá nhân thường xuyên phải đối mặt với một sự lựa chọn giữa các địa điểm, sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu mã, kích cỡ và màu sắc.
TRA không xem xét khả năng lựa chọn trong số các hành vi thay thế, đó là một trong những hạn chế. - Thứ ba, khi những tình huống mà trong đó ý định của cá nhân được đánh giá, nhưng họ lại không có tất cả các thông tin cần thiết để hình thành một ý định hoàn toàn tự tin. Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB) Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB) được đề xuất bởi Ajzen (1991) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Fishbein và Ajzen, 1975; Ajzen và Fishbein, 1980) bởi những hạn chế của mô hình ban đầu, khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của cá nhân mà họ không thể kiểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 soát được. Trong trường hợp này, các yếu tố về thái độ đối với hành vi thực hiện và chuẩn chủ quan của người đó không đủ giải thích cho hành động của họ.
Thuyết hành vi hoạch định (TPB) được Ajzen (1991) xây dựng đã hoàn thiện thêm mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi, có nguồn gốc từ khái niệm tự hiệu quả trong lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) của Bandura (1977). Các nghiên cứu cho thấy rằng, hành vi của cá nhân bị ảnh hưởng mạnh bởi sự tự tin của họ trong khả năng của mình để thực hiện hành vi đó (Bandura và cộng sự, 1980); khái niệm tự hiệu quả được áp dụng rộng rãi góp phần giải thích các mối quan hệ khác nhau giữa niềm tin, thái độ, ý định và hành vi. TPB cho rằng thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi cùng hình thành ý định hành vi và hành vi của một cá nhân. Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) Nguồn: Ajzen (1991), trang 182.
Trong đó, nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioural control - PBC), “với sự hiện diện hay vắng mặt của các nguồn lực và cơ hội cần thiết, nhận thức của một cá nhân là thuận lợi hoặc khó khăn trong việc thực hiện các hành vi cụ thể” (Ajzen, 1991, trang 188). Nhận thức kiểm soát hành vi được giả định là phản ánh trên kinh nghiệm quá khứ và một phần từ các thông tin cũ thông qua trao đổi thông tin của gia đình, bạn bè và các yếu tố có thể kiểm soát mức độ khó hay dễ của việc thực hiện hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Theo TPB, nhận thức kiểm soát hành vi cùng với ý định hành vi, có thể được sử dụng trực tiếp để dự đoán việc thực hiện hành vi. Ajzen (1991) cho rằng, nhận thức kiểm soát hành vi được xác định bởi tổng số các niềm tin kiểm soát có thể thiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Niềm tin kiểm soát là niềm tin của một cá nhân về sự hiện diện của các yếu tố về nguồn lực và cơ hội có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở hiệu suất của hành vi. Do đó, cũng giống như niềm tin về lợi ích của hành vi được xem như xác định thái độ đối với hành vi, niềm tin tiêu chuẩn được xem như xác định các chuẩn chủ quan, niềm tin về nguồn lực và cơ hội được xem như cơ sở cho nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Tóm lại, TPB phân biệt giữa ba loại: niềm tin – hành vi, tiêu chuẩn - kiểm soát, và giữa các cấu trúc liên quan đến thái độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi. Về mặt lý thuyết, đánh giá cá nhân của một hành vi (thái độ), định kiến xã hội của hành vi (chuẩn chủ quan) và sự tự tin đối với hành vi (nhận thức kiểm soát hành vi) với những khái niệm khác nhau và có vai trò quan trọng trong nghiên cứu ý định hành vi (Ajzen, 1991).
Do đó, với yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi được bổ sung, mô hình TPB được xem như tối ưu hơn TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của cá nhân trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory – BSET) Tương tự với khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi trong TPB của Ajzen (1991), lý thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory - BSET) được đề xuất bởi Dennis (1999) cũng xuất phát từ khái niệm tự hiệu quả trong lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) của Bandura (1977). * Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) Bandura (1977) đã giải thích chi tiết hơn về hành vi con người so với các nhà tâm lý học hành vi xã hội trước đó. Mô hình SCT của Bandura (1977) là khái niệm về những quyết định tương tác lẫn nhau và ảnh hưởng của nó đối với hành vi trong mối quan hệ của ba yếu tố: hành vi, các yếu tố cá nhân (bao gồm cả nhận thức) và môi trường.
Mối quan hệ hai chiều của hành vi và môi trường là động lực để phát triển hành vi cá nhân. Hành vi của một cá nhân sẽ điều chỉnh một số khía LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.