Chương 1 đã cho chúng ta thấy được cái nhìn tổng quan về đề tài đó là “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định đặt phòng trực tuyến của khách du lịch nội địa tại các khách sạn 4-5 sao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” dựa trên cơ sở trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài, trình bày mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng đồng thời đưa ra các câu hỏi nghiên cứu và cấu trúc một bài nghiên cứu cơ bản. Bên cạnh đó việc nghiên cứu đề tài cũng giúp cho ta thấy được những ý nghĩa của việc nghiên cứu ấy trong thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ khách hàng và sức ảnh hưởng trong tâm trí của khách khi sử dụng dịch vụ ở các khách sạn tại Thành phố Hồ Chí Minh. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số tổng quan về du lịch 2.1 Khái niệm về du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc (1995) “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
Luật Du lịch Việt Nam (2017) nêu lên định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích khác hợp pháp.2 Khái niệm về khách du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch gồm: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế (International tourist): là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (Inbound tourist) và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (Outbound tourist). 7 Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): là công dân Việt nam và người nước ngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong vi phạm lãnh thổ Việt Nam.2 Một số tổng quan về thương mại điện tử 2.1 Khái niệm về thương mại điện tử Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet.
Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) cho rằng: “Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên hệ thống Internet.” Theo Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL): “Thương mại điện tử là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian.2 Vai trò thương mại điện tử Tổng hợp và đúc kết kiến thức từ Giáo trình Thương mại điện tử (2013) và tài liệu khác, dường như thấy được sự phát triển và phồn vinh của một nền kinh tế không còn chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, mà ở mức độ lớn được quyết định bởi trình độ công nghệ thông tin và tri thức sáng tạo. Cùng với xu thế đó, thương mại điện tử xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới bởi những ảnh hưởng to lớn của mình: Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu. Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri rhức đã thực sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sản lớn nhất của một doanh nghiệp. 8 Mở ra cơ hội phát huy ưu thế của các nước phát triển sau để họ có thể đuổi kịp, thậm chí vượt các nước đã đi trước.
Xây dựng lại nền tảng, sức mạnh kinh tế quốc gia và có tiềm năng làm thay đổi cán cân tiềm lực toàn cầu. Rút ngắn khoảng cách về trình độ tri thức giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển. Cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tuyến.3 Thương mại điện tử trong khách sạn 2.1 Khái niệm về du lịch trực tuyến và đặt phòng trực tuyến Luật Du lịch Việt Nam (2017) nêu lên định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích khác hợp pháp.” Vậy kết hợp với thương mại điện tử ta có định nghĩa về du lịch trực tuyến là du lịch là loại hình đi du lịch có sử dụng Internet để tìm hiểu thông tin cần thiết về các dịch vụ dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi, … tại nơi đến một cách nhanh chóng và tiện lợi thông qua các đại lý du lịch trực tuyến hoặc khách du lịch có thể tự đặt trước. Đặt phòng trực tuyến là hình thức sử dụng Internet để thực hiện việc giữ chỗ tại nơi lưu trú ở điểm đến mong muốn, thông qua các đại lý du lịch trực tuyến hoặc tự cá nhân trực tiếp đặt qua hệ thống Internet.2 Khái niệm về khách sạn Theo TCVN 4391:2015 của Việt Nam thì khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng thành khối, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách.
9 Tại châu Âu, tổ chức HOTREC (Hotels, Restaurants & Cafe in Europe) hay còn gọi là Hiệp hội Khách sạn, Nhà hàng và Quán cà phê ở châu Âu, có nhiệm vụ đánh giá và xếp hạng tiêu chuẩn của các khách sạn. Khách sạn 4-5 sao là hệ thống khách sạn cao cấp, tất cả những tiêu chí này đều là những tiêu chí đánh giá của các nước Châu Âu được cung cấp bởi tổ chức HOTREC - hiệp hội nhà hàng, khách sạn, quán Cafe Châu Âu. Với bộ tiêu chuẩn này, ngoài các tiện nghi, vật dụng cao cấp về phòng nghỉ dưỡng; dịch vụ ăn uống, … thì khách sạn 5 sao phải có dịch vụ đỗ xe, nhân viên giữ hành lý, sảnh tiếp tân với ghế ngồi và dịch vụ đồ uống, dịch vụ chào đón khách đến và quà tặng trong phòng, … Tại Việt Nam, việc xếp hạng khách sạn từ 1 – 5 sao dựa trên bộ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4391:2015 do Tổng cục Du lịch biên soạn. Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu để xếp hạng khách sạn, không áp dụng cho các loại cơ sở lưu trú du lịch khác (homestay, nhà nghỉ không đáp ứng tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị…) Trong đó, yêu cầu khách sạn có cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng phục vụ cao, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, được đánh giá thông qua các tiêu chí: vị trí, kiến trúc; trang thiết bị, tiện nghi phục vụ; dịch vụ và mức độ phục vụ; nhân viên phục vụ; vệ sinh.3 Hệ thống các kênh phân phối 2.1 Hệ thống phân phối toàn cầu – GDS Hệ thống phân phối toàn cầu (GDS) là một công cụ đặt chỗ đầu tiên cho các công ty du lịch.
GDS là một nền tảng/mạng lưới cho phép các công ty du lịch và khách hàng của họ truy xuất vào dữ liệu du lịch để mua và so sánh các tùy chọn đặt chỗ. Các mạng GDS giống như hệ thống Travelport tạo ra hàng triệu USD trong việc bán sản phẩm du lịch toàn cầu. Thông qua nền tảng thương mại như vậy, các công ty du lịch có thể truy xuất vào kho dữ liệu và lịch trình về khách sạn, vé máy bay, thuê xe và 10 đặt chỗ tàu hỏa và xe bus theo thời gian thực. GDS kết nối tất cả những dịch vụ đó thông qua 3 mảng book đặt dịch vụ chủ yếu (máy bay, khách sạn và vận chuyển mặt đất) và các hoạt động khác.2 Trang website khách sạn Các khách sạn đều có riêng cho mình một trang website để khách du lịch vào các website khách sạn muốn đặt phòng để tìm hiểu về thông tin, giá cả, hình ảnh…để thực hiện ý định đặt phòng cho họ là điều hết sức cần thiết vì vậy việc có mặt của khách sạn trên internet là cực kỳ quan trọng, điều đó giúp khách sạn có thể bán trực tiếp phòng của mình đến các khách du lịch mà không cần phải thông qua bên thứ ba, như vậy có nghĩa rằng khách sạn không cần phải chia hoa hồng cho bên thứ ba.3 Công ty du lịch trực tuyến – OTAs Online Travel Agency (OTA) là đại lý du lịch (Travel Agency – TA) bán sản phẩm thông qua kênh trực tuyến (Online – O).
Tóm gọn lại OTA là công ty/đại lý du lịch trực tuyến. Các công ty này thường không đưa ra dịch vụ du lịch trực tiếp mà làm đại lý bán dịch vụ cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Kênh bán mà các công ty/đại lý này lựa chọn là online. Tất cả các giao dịch từ việc đặt dịch vụ cho đến thanh toán đều được thực hiện online.4 Quy trình của đặt phòng trực tuyến Theo Kênh khách sạn Việt Nam (2021) và tổng hợp các tạp chí khác về lĩnh vực khách sạn khi công nghệ phát triển và hiện đại, phần lớn các khách sạn đều cho phép khách hàng của mình đặt phòng thông qua trực tuyến.