Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu, giới thiệu sơ lược về những lý do chọn vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm trang 4 vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu được sử dụng và cấu trúc dự kiến của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước trình bày những cơ sở lý thuyết, tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến sự tham gia vào thị trường lao động của phụ nữ sau kết hôn. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước có liên quan và mô hình nghiên cứu đề xuất, chương này sẽ trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nguồn và cách lấy dữ liệu, khai báo các biến trong nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu, ở chương này trình bày mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng, xác định các yếu tố nào có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến việc tham gia vào thị trường lao động của phụ nữ Việt.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, tổng kết lại một số kết quả nổi bật của nghiên cứu, đề xuất một vài kiến nghị đối với những người làm công việc quản trị nhân lực. Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo (nếu có thể trong tương lai). trang 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương 2, để thuận tiện cho diễn giải cũng như tường minh các vấn đề nghiên cứu, tác giả sẽ giới thiệu ngữ nghĩa về một số thuật ngữ chính được sử dụng trong bài luận văn. Mặc khác, chương còn nêu các lý thuyết căn bản về kinh tế học được sử dụng để phân tích, giải thích các vấn đề chủ chốt của nghiên cứu.
Đồng thời, tác giả cũng dẫn dắt một vài nghiên cứu trước có liên quan, là cơ sở tham khảo để đưa ra giả thuyết cho nghiên cứu, và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo.1 Một số thuật ngữ được sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Thị trường lao động Thị trường lao động là nơi trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó. Thị trường lao động là thị trường lớn nhất và quan trọng nhất trong hệ thống thị trường vì lao động là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất và kết quả của quá trình trao đổi trên thị trường lao động là việc làm được trả công. Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và một bên là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng. Về cơ bản thị trường lao động cũng chịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật độc quyền…(theo voer.
Một định nghĩa khác thì thị trường lao động là thị trường phân bổ lao động cho các công việc và điều phối các quyết định thuê mướn lao động. Mọi thị trường đều có hai lực lượng là bên mua và bên bán. Trong thị trường lao động, bên mua là người chủ, các hãng, các tổ chức,.; còn bên bán là những người lao động. Tại mỗi thời điểm nhất định, thị trường lao động đều có rất nhiều người mua và người bán.
Quá trình mua và bán trên thị trường lao động được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền trang 6 lương, tiền công, điều kiện làm việc, … thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản, hoặc đơn giản chỉ bằng miệng (Tạ Đình Khánh, 2009). Như vậy, một người nào đó có tham gia vào thị trường lao động nghĩa là có trao đổi sức lao động để nhận lại khoản tiền lương, tiền công tương xứng. Khi người đó chỉ làm việc tại nhà, không diễn ra hoạt động trao đổi sức lao động với tiền lương, tiền công thì không được xem là tham gia vào thị trường lao động.2 Độ tuổi lao động Độ tuổi lao động theo ghi nhận tại điểm 1 điều 3 Luật lao động số 10/2012/QH13 thì tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi. Trong khi đó tuổi nghỉ hưu được xác định như sau: a.
Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1. Như vậy độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.3 Phụ nữ đã kết hôn Phụ nữ đã kết hôn là đối tượng nghiên cứu của bài, được hiểu là những người có giới tính nữ, tình trạng hôn nhân được lấy theo bộ dữ liệu là “đang có vợ/chồng”, các trường hợp sau hôn nhân khác không đưa vào nghiên cứu, và còn trong độ tuổi lao động theo quy định của luật lao động Việt Nam.4 Thất nghiệp, bán thất nghiệp Thất nghiệp trong kinh tế học là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.
Thất nghiệp có thể do tự nguyện, tức do người lao động trang 7 không hài lòng với mức lương được ấn định, nên không tham gia lao động, mà tìm kiếm công việc có mức lương cao hơn. Và một loại khác là thất nghiệp không tự nguyện, tức người lao động muốn tìm việc làm ở mức lương đã ấn định, nhưng chưa tìm được việc làm (Gartner, 2009). Thất nghiệp bao gồm thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp do chu kỳ (Mankiw, 2010). Thất nghiệp tự nhiên là dạng thất nghiệp khi mà người lao động tự nguyện không nhận việc làm, nhằm chờ hoặc tìm kiếm một cơ hội việc làm tốt hơn.
Thất nghiệp tự nhiên lúc nào cũng có ngay cả khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng. Thất nghiệp tự nhiên bao gồm thất nghiệp tạm thời (thất nghiệp tự nguyện) và thất nghiệp cơ cấu (do các chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng khiến cho người lao động phải mất một thời gian nhất định để thích ứng với công việc mới). Thất nghiệp trong ngắn hạn là thất nghiệp do tác động của chu kỳ kinh tế. Nguyên nhân do tổng cầu suy giảm khiến cho sản lượng cung cấp giảm, số việc làm ít đi.
Hoặc do tổng cung suy giảm do kỳ vọng của nhà sản xuất giảm, dẫn đến giảm biên chế lao động. Bán thất nghiệp là tình trạng người lao động có việc làm, nhưng vẫn đang tìm kiếm việc làm và không tìm được việc làm khác. Do công việc hiện tại chỉ là tạm thời, không đúng, không đủ với khả năng mong muốn của người lao động, chẳng hạn như số giờ làm việc ít, điều kiện làm việc tầm thường, không cần kinh nghiệm, kỹ năng không tương xứng,… 2.5 Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động trong xã hội. Trong kinh tế học, tương tự như thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp cũng được chia làm nhiều loại khác nhau như: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu, tỷ lệ thất nghiệp tạm thời, tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn…Tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên được sử dụng trong các báo cáo về tình hình kinh tế vĩ mô ở mỗi quốc gia.6 Tỉ phần tham gia lực lượng lao động Tỉ phần tham gia lực lượng lao động là phần trăm của một nhóm dân số hoặc đã có một công việc hoặc đang tìm kiếm việc làm.
Vì thế, chỉ số thống kê về tỉ phần tham gia lực lượng lao động đo lường mức độ sẵn sàng làm việc trên thị trường lao động của dân số hay một nhóm dân số của một nước (Tạ Đình Khánh, 2009).7 Tham gia lao động Một người được xem là có tham gia lao động nếu thuộc một trong các trường hợp sau (trích VHLSS): + Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó. Người làm loại công việc này mang sức lao động (chân tay hoặc trí óc) của mình để đổi lấy tiền công, tiền lương; không tự quyết định được những vấn đề liên quan đến công việc mình làm, như mức lương, số giờ làm việc, thời gian nghỉ phép, v.v… + Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý toàn bộ hoặc một phần; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này. + Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó. Các công việc gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.2 Cơ sở lý thuyết về kinh tế học của nghiên cứu 2.1 Lý thuyết về quy luật cung – cầu của lao động Theo lý thuyết cung – cầu lao động (Gartner, 2009), xét thị trường lao động tổng quát, với người lao động quyết định cung về lao động và các doanh nghiệp quyết định trang 9 cầu về lao động.
Nếu chính phủ không can thiệp, tiền lương và lao động sẽ được thị trường tự điều chỉnh đến điểm cân bằng giữa cung và cầu về lao động tại A, ứng với mức lương w* và cung lao động L*.