Chương 1 trình bày tổng quan về lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài. Từ đó, tác giả giải quyết các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và số liệu nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Từ những nội dung trên, đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là có tính khoa học và thực tiễn. Đây là cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
Cho nên, chương kế sẽ tập trung thiết lập cơ sở lý thuyết và khám phá ra các yếu tố tác động đến nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan về thị trƣờng chứng khoán Thị trường chứng khoán là một thành phần của thị trường tài chính rộng lớn, nơi mà các chủ thể của nền kinh tế có thể mua và bán chứng khoán lẫn nhau, trên cơ sở cung và cầu. Thị trường chứng khoán bao gồm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và thị trường phái sinh, nơi giá cả có thể được xác định và những người tham gia chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp đều có thể gặp nhau. Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên được thành lập ở Amsterdam, Hà Lan vào năm 1611 nhưng lại ít người biết sàn giao dịch này.
Cho đến cuối những năm 1792, một nhóm các thương gia ở New York, Mỹ đã thực hiện các giao dịch thỏa thuận mua bán cổ phiếu và trái phiếu của công ty. Đây là tiền đề cho sự hình thành của Sở giao dịch chứng khoán New York, hiện đang là Sở giao dịch chứng khoán lớn nhất Thế giới cả về quy mô và số lượng công ty niêm yết. Từ đó, Đạo luật Chứng khoán năm 1933 là đạo luật liên bang đầu tiên điều chỉnh thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Theo luật, bất kỳ ai muốn bán hợp đồng đầu tư ra công chúng đều phải công bố một số thông tin nhất định về đợt chào bán được đề xuất, công ty chào bán và các số liệu chính của công ty đó.
Những yêu cầu này nhằm bảo vệ công chúng đầu tư khỏi các hoạt động tiếp thị lừa đảo hoặc gây hiểu lầm. Công ty và các nhân vật hàng đầu của công ty phải chịu trách nhiệm nghiêm ngặt về bất kỳ sự thiếu chính xác nào trong báo cáo tài chính của mình, cho dù cố ý hay không. Luật pháp sau đó đã tạo ra Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC), chịu trách nhiệm về các quy định và thực thi. Thị trường chứng khoán được chia thành hai cấp độ: Thị trường sơ cấp: là một phần của thị trường vốn liên quan đến việc phát hành chứng khoán mới.
Các công ty, chính phủ hoặc các tổ chức trong khu vực có 9 thể nhận được tài trợ thông qua việc bán cổ phiếu hoặc trái phiếu mới phát hành. Điều này phải được sự cho phép của Chính phủ (ở Việt Nam là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Trong trường hợp phát hành cổ phiếu mới, việc bán hàng này là chào bán công khai. Thị trường thứ cấp: là thị trường tài chính nơi mua và bán các chứng khoán và công cụ tài chính đã phát hành trước đó như cổ phiếu, trái phiếu, quyền chọn và hợp đồng tương lai.
Thị trường thứ cấp cho nhiều loại tài sản có thể thay đổi từ các khoản cho vay đến cổ phiếu, từ không tập trung đến tập trung và từ kém thanh khoản đến thanh khoản. Các sàn giao dịch chứng khoán lớn là ví dụ dễ thấy nhất về thị trường thứ cấp thanh khoản - trong trường hợp này là cổ phiếu của các công ty được giao dịch công khai.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Akerlof (1970) lấy ví dụ về những chiếc xe ô tô đã qua sử dụng để nắm bắt được bản chất của việc thông tin bất cân xứng. Ông giả sử rằng trên thị trường chỉ có 4 loại ô tô: xe mới và xe cũ, xe tốt và xe xấu. Một chiếc xe mới có thể là một chiếc xe tốt hoặc xấu, và tất nhiên chiếc xe đã qua sử dụng cũng vậy.
Các cá nhân trên thị trường mua một chiếc xe mới mà không biết liệu chiếc xe đó tốt hay xấu. Sau khi sở hữu chiếc xe, trong một thời gian dài, chủ sở hữu mới có thể xác định được chất lượng của chiếc xe này. Một sự bất đối xứng trong thông tin có sẵn đã phát triển: đối với người bán bây giờ có nhiều kiến thức về chất lượng của một chiếc xe hơi hơn người mua. Đều là xe mới nhưng xe tốt và xe xấu vẫn bán cùng một giá - vì người mua không thể phân biệt được đâu là xe tốt và đâu là xe xấu.
Điều này làm tăng lợi ích cho người bán trong khi người mua phải chịu thiệt hại hơn khi mua phải chiếc xe xấu. Tương tự với thị trường chứng khoán, sự quan tâm hàng đầu của phần lớn nhà đầu tư cá nhân trên thị trường là lợi nhuận. Trong khi đó, lượng thông tin họ nhận được thường ít hơn so với nhà đầu tư tổ chức hoặc nhà quản lý nên sẽ có những bất lợi hơn. Vì vậy, nếu nhà đầu tư cá nhân không xác định được chính xác 10 lợi nhuận kỳ vọng của công ty niêm yết sẽ dẫn đến định giá cổ phiếu cao hơn giá trị thực của nó, từ đó bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư cá nhân trong việc ra quyết định đầu tư.3 Lý thuyết tài chính hành vi Trong những năm qua, tài chính truyền thống đã bắt nguồn từ việc hình thành quyết định đầu tư và giải thích hiệu quả của thị trường.
Nhưng một chủ đề thay thế đã xuất hiện, nhận ra tầm quan trọng của các lỗi nhận thức và tâm lý liên quan đến việc ra quyết định đầu tư. Từ đó, tài chính hành vi được nghiên cứu phổ biến hơn nhằm cố gắng giải thích và cải thiện nhận thức của mọi người về các yếu tố cảm xúc và quá trình tâm lý của các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào thị trường tài chính. Hành vi như vậy được thể hiện bởi nhiều nhà đầu tư, nhóm và tổ chức trong thị trường chứng khoán. Theo Subash (2012), tài chính hành vi là một nhánh của kinh tế học hành vi, nghiên cứu cách thức hành vi của các tác nhân trên thị trường tài chính và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý, kết quả là ảnh hưởng đến các quyết định được đưa ra trong khi mua hoặc bán trên thị trường từ đó ảnh hưởng đến giá cả.
Hơn nữa, những tâm lý này có thể là nguồn giải thích cho những điều bất thường của thị trường và đặc biệt là những bất thường trên thị trường chứng khoán, chẳng hạn như giá cổ phiếu tăng hoặc giảm nghiêm trọng. Nghiên cứu về hành vi tài chính không còn quá mới lạ. Để giải thích sự phi lý của nhà đầu tư và quá trình ra quyết định của họ, tài chính hành vi dựa trên bằng chứng thực nghiệm về tâm lý học nhận thức và những thành kiến phát sinh khi mọi người hình thành niềm tin, sở thích và cách họ đưa ra quyết định dựa trên niềm tin và sở thích của họ.4 Lý thuyết thị trƣờng hiệu quả Thị trường hiệu quả được định nghĩa là thị trường có số lượng lớn các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tối đa hóa lợi nhuận và cạnh tranh tích cực. Mỗi nhà đầu tư cố gắng dự đoán giá trị thị trường trong tương lai của các chứng khoán riêng lẻ và là 11 nơi thông tin quan trọng hiện tại hầu như có sẵn miễn phí cho tất cả những người tham gia Trong một thị trường hiệu quả, sự cạnh tranh giữa nhiều người tham gia thông minh dẫn đến tình huống, tại bất kỳ thời điểm nào, giá thực tế của các chứng khoán riêng lẻ đã phản ánh tác động của thông tin dựa trên cả các sự kiện đã xảy ra, các sự kiện hiện tại và thị trường dự kiến sẽ diễn ra trong tương lai.
Nói cách khác, trong một thị trường hiệu quả tại bất kỳ thời điểm nào, giá thực tế của một chứng khoán sẽ là một ước tính tốt về giá trị nội tại của nó. (Fama, 1960) Giá cổ phiếu được miêu tả là những bước ngẫu nhiên vì chúng phụ thuộc vào những thông tin mới có thật và không thể dự đoán. Với những giả định này, việc vượt trội hơn so với thị trường bằng cách chọn cổ phiếu hoặc thời điểm là rất khó xảy ra, trừ khi bạn là một người rất may mắn. Fama (1960) chia thị trường hiệu quả thành ba dạng: Dạng hiệu quả “yếu” trong đó tất cả giá thị trường trong quá khứ, lợi nhuận và các thông tin khác được kết hợp đầy đủ vào giá, khiến cho nhà đầu tư không thể kiếm được lợi nhuận điều chỉnh rủi ro đáng tin cậy dựa trên dữ liệu lịch sử.
Dạng “bán mạnh” nói rằng các nhà đầu tư không thể kiếm được lợi nhuận cao hơn bằng cách sử dụng thông tin có sẵn công khai vì chúng đã được đưa vào giá. Điều này làm cho phân tích cơ bản trở nên vô dụng. Dạng “mạnh” nói rằng tất cả thông tin, công khai và riêng tư, được phản ánh đầy đủ trong giá chứng khoán. Điều này có nghĩa là ngay cả thông tin nội bộ cũng không giúp nhà đầu tư đạt được lợi nhuận vượt trội.5 Lý thuyết hành vi dự định Lý thuyết hành vi dự định được mở rộng từ lý thuyết hành vi hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975).
Trong đó, Ajzen (1991) đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức, theo đó các nguồn lực và cơ hội có sẵn cho một người ở một mức độ nào đó sẽ quyết định khả năng đạt được thành tựu từ hành vi đó. Yếu tố kiểm soát hành vi bao gồm các yếu tố bên trong (kiến thức, kỹ năng, … của người 12 ra quyết định) và các yếu tố bên ngoài (thời gian, cơ hội, …). Đây là yếu tố phản ánh mức độ tự tin của cá nhân khi có dự định thực hiện một hành vi nào đó dựa trên điều kiện của bản thân. Trong bài nghiên cứu này, các yếu tố như trình độ học vấn, công việc, thu nhập và giới tính đều được loại bỏ.
Tuy nhiên, khoảng thời gian mà nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán là yếu tố cần thiết để tăng độ tin cậy cho bài viết. Vì những nhà đầu tư lâu năm sẽ hiểu rõ thị trường và những yếu tố nào thật sự ảnh hưởng đến quyết định của họ.