Chương 1 tác giả đã khái quát sơ lược về nội dung của đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các Ngân hàng TMCP niêm yết ở Việt Nam” để người đọc có thể hình dung được những vấn đề mà bài nghiên cứu đạt được. Tại chương này tác giả tập trung vào tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu nghiên cứu từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu để xác định các yếu tố tác động đến KNSL của Ngân hàng TMCP. Đồng thời, chương này nêu lên kết cấu chung của bài viết để tác 6 giả có thể theo dõi bài viết một cách chặt chẽ. Chương tiếp theo tác giả sẽ trình bày về nền tảng lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu trước khoảng 5 năm trở lại đây trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và ngoài nước có mối liên quan đến KNSL của các Ngân hàng TMCP.
7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày những lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu và khảo lược các nghiên cứu trước phạm vi trong và ngoài nước, qua khảo lược các nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả xác định khoảng trống các nghiên cứu trước đó và đưa ra một số yếu tố có mối quan hệ với KNSL của Ngân hàng TMCP để có thể đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với bài nghiên cứu này. LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI Lý thuyết ma sát về lợi nhuận: Theo lý thuyết này, tồn tại một tỷ suất lợi nhuận thông thƣờng là tỷ suất lợi nhuận trên vốn phải đƣợc trả cho chủ sở hữu vốn nhƣ một kết quả thu nhận đƣợc cho việc tiết kiệm và đầu tƣ tiền của họ thay vì tiêu dùng hết thu nhập hoặc tích trữ. Trong một nền kinh tế, nơi không có những thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc về nhu cầu hoặc điều kiện chi phí xảy ra, ở trạng thái cân bằng dài hạn, các doanh nghiệp sẽ chỉ kiếm đƣợc tỷ lệ lợi nhuận bình thƣờng trên vốn. Trong những điều kiện này, lợi nhuận kinh tế sẽ không đƣợc tích lũy cho các công ty.
Lý thuyết ma sát về lợi nhuận giải thích rằng những cú sốc hoặc biến cố mới đôi khi xảy ra trong nền kinh tế do những thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc về nhu cầu sản phẩm hoặc điều kiện chi phí gây ra tình trạng mất cân bằng. Chính những điều kiện mất cân bằng này đã mang lại lợi nhuận kinh tế dƣơng hoặc âm cho một số doanh nghiệp. Do đó, theo lý thuyết ma sát, lợi nhuận kinh tế tồn tại trong một thời gian do các yếu tố ma sát (cú sốc hoặc biến cố mới) ngăn cản sự điều chỉnh tức thời của hệ thống theo các điều kiện mới. Ví dụ, vào thời điểm giá xăng dầu tăng mạnh vào năm 1990 do chiến tranh Mỹ-Iraq, nhiều công ty lọc dầu đã thu đƣợc lợi nhuận kinh tế cao.
Tƣơng tự, do sự suy thoái của thƣơng mại thế giới trong những năm 1999-2001, nhiều công ty Ấn Độ kinh doanh xuất khẩu bị thua lỗ do nhu cầu đối với sản phẩm của họ ở Mỹ và các nƣớc khác giảm. Khi lợi nhuận kinh tế đƣợc tạo ra trong ngắn hạn, về lâu dài sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia vào ngành cho đến khi tất cả lợi nhuận kinh tế giảm xuống bằng 0 (nghĩa là các doanh nghiệp sẽ chỉ kiếm đƣợc lợi nhuận thông thƣờng hoặc lợi nhuận từ khoản đầu tƣ vốn của họ). Mặt khác, khi các doanh nghiệp thua lỗ (tức là lợi nhuận âm), một 8 số doanh nghiệp sẽ rời bỏ ngành. Điều này sẽ khiến giá sản phẩm tăng lên, loại bỏ lỗ và các doanh nghiệp còn lại chỉ kiếm đƣợc lợi nhuận bình thƣờng.
Stigler, ngƣời đoạt giải Nobel về kinh tế đã tóm tắt lý thuyết ma sát về lợi nhuận nhƣ sau: Các doanh nghiệp trong một ngành cạnh tranh có thể nhận đƣợc lợi nhuận do trạng thái mất cân bằng trong nền kinh tế những lợi nhuận này có thể tăng lên ngay cả khi tất cả các doanh nhân đều giống nhau vì sự mất cân bằng có thể là đặc điểm của toàn bộ ngành. Nếu giá cao hơn hoặc chi phí thấp hơn dự đoán, doanh nhân sẽ nhận đƣợc lợi nhuận cao hơn sản phẩm thay thế dựa trên nguồn lực của họ. Nếu giá thấp hơn hoặc chi phí cao hơn dự đoán, các doanh nhân sẽ nhận đƣợc ít hơn sản phẩm thay thế từ nguồn lực của họ, tức là lợi nhuận âm. Lợi nhuận dƣơng có thể tồn tại trong thời gian dài nếu các công ty ngoài ngành có ý định tham gia vào ngành và lợi nhuận âm có thể tồn tại miễn là sản phẩm của họ mang lại nhiều lợi nhuận hơn khi sử dụng trong ngành so với sử dụng ở nơi khác.
Lý thuyết độc quyền về lợi nhuận: Một cách giải thích khác về lợi nhuận trên mức bình thƣờng là do quyền lực độc quyền mà các doanh nghiệp đƣợc hƣởng. Các doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền hạn chế sản lƣợng và tính giá cao hơn trong thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo. Điều này khiến cho các công ty độc quyền thu đƣợc lợi nhuận trên mức bình thƣờng. Theo Joan Robinson, E.
Kalecki cho rằng lợi nhuận trên mức bình thƣờng với sức mạnh độc quyền mà một số công ty đƣợc hƣởng. Do có những rào cản mạnh mẽ đối với sự gia nhập của các công ty mới, các công ty độc quyền có thể tiếp tục thu đƣợc lợi nhuận kinh tế ngay cả trong thời gian dài. Quyền lực độc quyền có thể phát sinh do sự kiểm soát duy nhất đối với một số nguyên liệu thô thiết yếu cần thiết để sản xuất một hàng hóa, từ lợi thế quy mô, từ sự chính sách pháp lý hoặc từ bằng sáng chế về quyền sở hữu, từ những hạn chế của Chính phủ đối với việc nhập khẩu hàng hóa. Lý thuyết đổi mới về lợi nhuận: Lý thuyết lợi nhuận này giải thích rằng lợi nhuận kinh tế phát sinh nhờ những đổi mới thành công do các nhà quản trị đƣa ra.
Theo Joseph Schumpeter cho rằng chức năng chính của nhà quản trị là đƣa ra 9 những đổi mới trong nền kinh tế và lợi nhuận là kết quả cho việc họ thực hiện chức năng này. Sự đổi mới, nhƣ Schumpeter cho rằng có ý nghĩa rất rộng. Bất kỳ biện pháp hoặc chính sách mới nào đƣợc một nhà quản trị áp dụng nhằm giảm chi phí sản xuất hoặc tăng nhu cầu về sản phẩm của mình đều là một sự đổi mới. Vì vậy, sự đổi mới có thể đƣợc chia thành hai loại.
Những loại đổi mới đầu tiên là những loại làm giảm chi phí sản xuất. Loại đổi mới đầu tiên này bao gồm việc giới thiệu máy móc mới, kỹ thuật hoặc quy trình sản xuất mới và giá thấp hơn, khai thác nguồn nguyên liệu thô mới, phƣơng pháp tổ chức công ty mới và tốt hơn,…. Loại đổi mới thứ hai là những yếu tố làm tăng cầu về sản phẩm. Trong danh mục này bao gồm việc giới thiệu một sản phẩm mới, một loại hoặc thiết kế mới của sản phẩm, một phƣơng pháp quảng cáo mới và ƣu việt hơn, khám phá các thị trƣờng mới, v.
Nếu một sự đổi mới thành công, nghĩa là nếu nó đạt đƣợc mục tiêu là hoặc giảm chi phí sản xuất hoặc tăng nhu cầu về một sản phẩm, nó sẽ làm tăng lợi nhuận. Lợi nhuận xuất hiện do đổi mới thành công hoặc chi phí giảm xuống dƣới mức giá hiện hành của sản phẩm hoặc nhà quản trị có thể bán đƣợc nhiều hơn và với giá tốt hơn trƣớc. Điều đáng nói ở đây là lợi nhuận do một đổi mới cụ thể mang lại có xu hƣớng bị cạnh tranh khi những ngƣời khác sao chép và áp dụng nó. Một sự đổi mới không còn là mới mẻ khi những ngƣời khác cũng biết đến nó và áp dụng nó.
Khi một nhà quản trị giới thiệu một cải tiến mới, họ là ngƣời đầu tiên ở vị trí độc quyền vì đổi mới chỉ giới hạn ở họ, do đó họ kiếm đƣợc lợi nhuận lớn. Sau một thời gian, những ngƣời khác cũng áp dụng nó, lợi nhuận sẽ biến mất. Nếu pháp luật cho phép nhà quản trị có thể nhận đƣợc chứng nhận về cải tiến mới của mình, ví dụ: sản phẩm mới đƣợc cấp bằng sáng chế, thì họ sẽ tiếp tục kiếm đƣợc lợi nhuận trong một thời gian dài hơn. Ví dụ, Tập đoàn Xerox đã thu đƣợc lợi nhuận kinh tế lớn vì đã phát triển và tiếp thị thành công một công nghệ sao chép vƣợt trội.
Xerox tiếp tục kiếm đƣợc lợi nhuận lớn cho đến khi các công ty khác tham gia vào lĩnh vực này để cạnh tranh với những khoản lợi nhuận siêu bình thƣờng mà nó kiếm đƣợc. Tƣơng tự nhƣ vậy, Bill Gates đã giới thiệu hệ điều hành Windows và các loại phần mềm máy tính 10 MS-office và đã trở thành tỷ phú nhờ kiếm đƣợc lợi nhuận khổng lồ từ những đổi mới của mình. Lý thuyết mang lại lợi nhuận và rủi ro: Lý thuyết này giải thích rằng lợi nhuận là kết quả cần thiết của doanh nhân khi chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong nền kinh tế đang thay đổi. Vì vậy, đây là lý thuyết chức năng của lợi nhuận.
Lợi nhuận phát sinh do sự không chắc chắn về tƣơng lai. Các nhà quản trị phải đảm nhận công việc sản xuất trong điều kiện không chắc chắn. Trƣớc tiên, họ phải ƣớc tính các điều kiện trong tƣơng lai liên quan đến nhu cầu về sản phẩm và các yếu tố khác ảnh hƣởng đến giá cả và chi phí. Dựa trên những ƣớc tính và dự đoán của mình, họ ký hợp đồng trƣớc với các nhà cung cấp các yếu tố sản xuất với mức thù lao cố định.
Họ nhận ra giá trị sản phẩm do các yếu tố đƣợc thuê tạo ra sau khi nó đƣợc sản xuất và bán ra thị trƣờng. Nhƣng rất nhiều thời gian đƣợc dành cho quá trình sản xuất và bán sản phẩm. Nhƣng giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm bán sản phẩm, nhiều thay đổi có thể diễn ra làm đảo lộn những dự đoán về điều tốt hoặc điều xấu hơn và do đó làm tăng lợi nhuận, cả tích cực lẫn tiêu cực. Vì vậy, sự không chắc chắn, tức là sự thiếu hiểu biết về các điều kiện cung và cầu trong tƣơng lai, là nguyên nhân của lợi nhuận.
Cần lƣu ý rằng lợi nhuận dƣơng sẽ tích lũy cho những nhà quản trị đƣa ra ƣớc tính chính xác về tƣơng lai hoặc những dự đoán của họ đƣợc chứng minh là đúng. Những ngƣời có dự đoán sai sẽ phải chịu tổn thất.