Chương 1 đã trình bày được nét chính của nghiên cứu, theo đó khoá luận sẽ thực hiện phân tích đánh giá về tác động của TNNL đến khả năng sinh lời của ngân hàng TMCP Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, đề tài sử dụng nghiên cứu định lượng với các phương pháp hồi quy lần lượt là Pooled OLS, Fem, Rem và Gls với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2014-2023 của 27 ngân hàng TMCP tại Việt Nam. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 sẽ trình bày những nền tảng quan trọng để thực hiện nghiên cứu, đó là cơ sở lý chung về đề tài và các nghiên cứu có liên quan đề tài. Từ cơ sở này tác giả sẽ xác định khoảng trống nghiên cứu cho đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về khả năng sinh lời Nguyễn Văn Ngọc (2012) định nghĩa rằng “khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại là khái niệm “phản ánh mối liên hệ giữa lợi nhuận và quy mô ngân hàng KNSL là thước đo hiệu quả bằng tiền và cũng là thước đo hữu hiệu để đánh giá hoạt động của ngân hàng cùng những rủi ro gặp phải thường được đánh giá trong một thời điểm nhất định”.Rose (2002) định nghĩa rằng “ngân hàng thương mại có thể được xem như một tập đoàn kinh doanh hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi với một mức độ rủi ro cho phép”. Nhìn chung, tác giả nhận thấy khả năng sinh lời là mục tiêu quan trọng mà các ngân hàng quan tâm nhiều hơn hết, vì thu nhập cao giúp cho ngân hàng bảo toàn được nguồn vốn, mở rộng thị phần và tăng sự hấp dẫn thu hút nhiều vốn đầu tư. Tóm lại KNSL là sự phản ánh khả năng tạo ra mức lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm từ việc buôn bán các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng.
Ngoài ra nó còn là nguồn vốn kinh tế của ngân hàng trong hoạtđộng kinh doanh ở mức an toàn. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng Cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác trên thị trường, ngân hàng thương mại cũng hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng sinh lời để tối đa hoá về giá trị của công ty. Do vậy, trong bài khoá luận này, tác giả nhận thấy việc phân tích đánh giá về khả KNSL của ngân hàng TMCP là một nội dung lý thuyết cần thiết, trong đó để đánh giá một cách khoa học và chặt chẽ về KNSL cần 9 dựa trên các chỉ tiêu định lượng cụ thể. Hiện nay có nhiều cách thức khác nhau trong việc xác định KNSL của ngân hàng, tác giả trình bày một số chỉ tiêu chính như sau: 2.
Đánh giá thông qua chỉ tiêu ROA Nguyễn Đăng Dờn (2012) cho rằng “chỉ tiêu ROA (Return on Assets) – tỷ suất sinh lời của tài sản, đây là chỉ tiêu phổ biến khi đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng dựa trên mức sinh lời của nguồn tài sản”. “Tỷ số lợi nhuận trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ” (Phan Đức Dũng (2008)). ROA được đo lường theo công thức sau: Lợi nhuận sau thuế ROA= Tổng tài sản 2.
Đánh giá thông qua chỉ tiêu ROE Chỉ tiêu ROE (Return on Equity) – tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu, đây là chỉ tiêu phổ biến khi đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng dựa trên mức sinh lời của nguồn vốn. ROE được đo lường theo công thức sau: Lợi nhuận sau thuế ROE= Vốn chủ sở hữu 2. Đánh giá thông qua chỉ tiêu NIM Chỉ tiêu NIM (Return on Assets) – tỷ suất sinh lời của tài sản, đây là chỉ tiêu phổ biến khi đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng dựa trên mức sinh lời của nguồn tài sản. Thu nhập lãi cận biên được một số tác giả nghiên cứu như (Brock and Franken, 2003, Claeys và Vande, 2008).
Thu nhập lãi cận biên (Net Income Margin - NIM) phản ánh biên độ trong hoạt động kinh doanh truyền thống và vay và cho vay của 10 ngân hàng. NIM được tính toán bằng cách lấy thu nhập lãi thuần chia cho tài sản sinh lãi trong bảng cân đối kế toán. NIM được tính toán như sau: Công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần như sau: Thu từ lãi−chi phí lãi NIM= Tài sản sinh lời 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng 2.
Các nhân tố bên trong Quy mô tài sản ngân hàng Quy mô ngân hàng được sử dụng để nắm bắt các lợi thế kinh tế và tính phi kinh tế nhờ quy mô trong ngân hàng (Ayadi và Boujelbene, 2012). Các ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ đạt được khả năng sinh lời cao hơn, có nhiều cơ hội thuận lợi trong quá trình mở rộng phân phối sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm các chi phí trong giao dịch, từ đó có thể tăng lợi nhuận. Short (1979) cũng khẳng định quy mô có khả năng giúp ngân hàng giảm chi phí huy động. Tuy nhiên, nếu các ngân hàng có quy mô quá lớn, việc quản trị tài sản đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, nếu quản lý nguồn nhân lực không hiệu quả sẽ làm bộ máy cồng kềnh, phát sinh nhiều chi phí, từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận.
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là một yếu tố quan trọng vì nó quyết định đến sự tồn tại và sự phát triển của một ngân hàng. Chỉ tiêu này giúp đánh giá được khả năng thanh toán của ngân hàng, đồng thời giúp các nhà quản trị xác định được tỷ lệ an toàn từ đó điều chỉnh hoạt động của ngân hàng. Khi một ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao sẽ có lợi thế cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính hơn cho khách hàng của họ (Bashir, 1999). Bên cạnh đó cũng còn có một số ý kiến trái chiều cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu có mối quan hệ nghịch biến, vốn chủ sở hữu cao làm giảm khả năng sinh lời vì đây được coi là nguồn kinh phí đắt hơn, chính vì thế việc gia tăng vốn chủ sở hữu 11 làm tăng chi phí vốn trung bình.
Điều này làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng (Angbazo, 1997). Tiền gửi khách hàng Tiền gửi của khách hàng là nguồn huy động vốn chính của ngân hàng, vì vậy nó có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng (Gul và cộng sự, 2011). Tiền gửi là một nguồn tài trợ rẻ và ổn định so với các nguồn khác, khả năng sinh lời của ngân hàng tăng lên cùng với một tỷ lệ tiền gửi cao hơn. Các NHTM càng có khả năng đạt lợi nhuận cao nếu có vốn mạnh, dễ dàng đẩy mạnh nghiệp vụ cho vay và mở rộng thêm các hoạt động sinh lời khác.
Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung chuyển đổi các khoản tiền này thành tài sản sinh lời, đẩy vốn đi nhanh mà không quan tâm đến chất lượng tín dụng thì sự gia tăng tiền gửi có thể không làm gia tăng khả năng sinh lời. Quy mô tín dụng Cho vay là một hoạt động giữ vai trò quan trọng, thường chiếm tỷ lệ khá lớn trên tổng tài sản của ngân hàng, vì thế lợi nhuận đem lại từ cho vay là nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Dư nợ cho vay càng nhiều nguỵ ngân hàng thu lãi nhiều hơn và rủi ro cũng cao hơn (Abdullah và cộng sự, 2014). Dựa vào mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận, khả năng sinh lời sẽ tăng khi các khoản cho vay tăng lên so với các tài sản an toàn khác trong danh mục tài sản của ngân hàng (Trujillo-Ponce, 2013).
Tuy nhiên hầu hết rủi ro của ngân hàng đều nằm trong lĩnh vực cho vay khi tăng trưởng của hoạt động cho vay không đi cùng với việc kiểm soát chất lượng. Các nhân tố bên ngoài Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hiệu quả kinh tế cao hơn thường đi kèm với tăng trưởng kinh tế, dẫn đến lợi nhuận tốt hơn cho các ngân hàng. Tuy nhiên, từ một góc độ khác, sự cạnh tranh cao hơn có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, do đó có thể dự đoán một mối quan hệ nghịch giữa GDP bình quân đầu người và lợi nhuận của các ngân hàng. Nhiều nghiên 12 cứu đã báo cáo mối quan hệ nghịch giữa khả năng sinh lời và tăng trưởng GDP (Ben Ameur và Mhiri, 2013; Ben Naceur và Omran, 2011; Yanikkaya và cộng sự, 2018).
Tỷ lệ lạm phát Tác động cùng chiều hay ngược chiều của lạm phát đến khả năng sinh tùy thuộc vào lạm phát dự đoán được hay không. Trường hợp lạm phát có dự đoán trước, ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho vay cao hơn chi phí lạm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay được điều chỉnh chậm hơn tốc độ tăng của chi phí vốn và chi phí hoạt động, doanh thu có thể tăng chậm hơn so với chi phí, và lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời. Hơn nữa, lạm phát làm giảm nhu cầu tín dụng và tiền gửi của khách hàng (Zeitun, 2012).
Những bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu của Syari (2012) đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa lạm phát và khả năng sinh lời là mối tương quan nghịch. Lạm phát gây ra sự bất ổn cho kinh tế vĩ mô, làm cho rủi ro của ngân hàng tăng cao và làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gul và cộng sự (2011); Muhammad và cộng sự (2013) lại cho thấy mối tương quan thuận giữa lạm phát và khả năng sinh lời. Từ những nghiên cứu trên có thể thấy tác động của lạm phát đến khả năng sinh lời của ngân hàng có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI 2. Khái niệm và phân loại Thu nhập ngoài lãi được Peter S.Rose (2013), định nghĩa là số tiền mà ngân hàng kiếm được từ các hoạt động không liên quan đến cho vay hoặc tiết kiệm, như phí dịch vụ, hoa hồng, lợi nhuận từ giao dịch chứng khoán, hoặc bảo hiểm.