CHƯƠNG 1 Chương 1 đã chỉ ra được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết từ việc phân tích tác động của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động của các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Từ việc tổng quan quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã đưa ra được lỗ hổng cho bài nghiên cứu này. Từ đó, xác định được mục tiêu phân tích tổng quát cho đến cụ thể và kỳ vọng sẽ được giải quyết thông qua các câu hỏi, vấn đề được đặt ra. Dựa trên dữ liệu là 28 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022 cùng với việc kế thừa từ các nghiên cứu trước, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và chủ yếu là phương pháp định lượng để xác định tác động của nợ xấu đến KNSL của Ngân hàng, trong đó có xét đến tác động của dịch Covid – 19.
Phần cuối của chương này là trình bày bố cục của khóa luận bao gồm 05 chương và tóm tắt sơ lược về nội dung cũng như cách tiếp cận của mỗi chương. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Ở chương 2, tác giả sẽ trình bày các khái niệm, các phương pháp đo lường về nợ xấu và khả năng sinh lời. Đồng thời, tác giả cũng tìm ra được các lý thuyết liên quan làm nền tảng để đưa ra được các hướng tác động đến đề tài. Bên cạnh đó, chương 2 còn đưa ra được các nghiên cứu thực nghiệm liên quan nhằm định hướng xây dựng mô hình và chỉ ra được các khoảng trống nghiên cứu.
Khái quát về nợ xấu và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2. Khái quát về nợ xấu 2.1 Khái niệm Việc bảo vệ khỏi sự bất ổn tài chính càng trở nên quan trọng hơn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008 gây ra tổn thất to lớn trên toàn thế giới (Mamatzakis & Bermpei, 2014). Vì vậy, người ta đặc biệt chú ý đến sự bất ổn tài chính và nguyên nhân của nó. Chấp nhận rủi ro quá mức là yếu tố chính góp phần gây mất ổn định cho toàn bộ hệ thống ngân hàng (Berger, El Ghoul, Guedhami, & Roman, 2017).
Thật vậy, trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động. Đồng thời, việc tự do hóa thị trường tài chính của các nước đã dẫn đến việc các NHTM mở rộng tín dụng, từ đó đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong hai thập kỷ qua (Cingolani, 2013). Do đó, đòi hỏi Các chính trị gia, nhà quản lý kinh tế và ngành ngân hàng thường cần phải đối mặt với những thách thức và cơ hội đặc biệt của quá trình tự do hóa tài chính. Một trong những ảnh hưởng chung và đặc biệt quan trọng mà các Ngân hàng có thể trải đó là sự tự do hóa tài chính có thể làm tăng khả năng cạnh tranh dẫn đến các NHTM hạ thấp quá mức các tiêu chuẩn cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng ngày càng cao và làm nguy cơ nợ xấu ngày càng gia tăng (Salas và Saurina 2002).
Theo như chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group của Liên Hợp Quốc (AEG 2004): “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuân; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 13 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ". Trong khi đó, theo như Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS), trong các hướng dẫn về việc quản lý rủi ro tín dụng, BCBS đã xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Tại Việt Nam, theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT - NHNN, nợ xấu nội bảng gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/ TT- NHNN. Căn cứ vào thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng để phân loại nợ xấu thành 3 nhóm: nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).
Có thể nói, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cụ thể, nếu thời gian thanh toán bị quá hạn vượt quá 90 ngày thì bị coi là nợ xấu. Tóm lại, để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM thì cần phải xem xét đến yếu tố nợ xấu. Việc này sẽ giúp phản ánh chính xác sức khỏe tài chính cũng như tiềm lực tài chính của các Ngân hàng.
Việc nợ xấu tăng cao gây ra nhiều thiệt hại tài chính do việc giảm gía trị tài sản cũng như mất mát từ việc không thu lại được số tiền nợ; ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn do các nhà đầu tư người gửi tiết kiệm có thể mất niềm tin vào sức khỏe tài chính của ngân hàng đồng nghĩa với việc khó khăn trong việc thu hút khách hàng mới; tăng chi phí vốn để bù đắp rủi ro tín dụng và có thể phải tăng lãi suất trên các sản phẩm và dịch vụ tài chính của mình. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ khiến các NHTM rơi vào tình trạng mất khả năng thanh từ đó làm ảnh hưởng sâu sắc đến nền tài chính quốc gia. Phân loại nợ xấu Căn cứ theo Điều 10 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN, được sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 09/2014/TT-NHNN các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm sau: 14 Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn: là nợ trong hạn, được đánh giá đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Các khoản nợ khác gồm nợ trung và dài hạn khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi treo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 1 năm, và đối với nợ ngắn hạn thì thời hạn là ba tháng và được đánh giá là có khả năng trả nợ đủ cả gốc và lãi đúng theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
Ngoài ra, còn có khoản nợ bị quá hạn nhưng dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi gốc, lãi bị quá hạn và gốc, lãi còn lại đúng hạn. Nhóm 2 - Nợ cần chú ý: Bao gồm các khoản nợ quá hạn đến 90 ngày và được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn nhóm 1 vì tuy có khả năng thu hồi nợ nhưng khách hàng có dấu hiệu giảm khả năng trả nợ; các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn trừ nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn: Gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 -180 ngày; các khoản nợ gia hạn lần đầu còn trong hạn trừ nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Bên cạnh đó còn có nợ được miễn/giảm lại cho khách hàng không đủ khả năng trả lãi đúng theo thỏa thuận và nợ bị có quyết định thu hồi mà chưa thu hồi được dưới 30 ngày.
Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ: Bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 180 - 360 ngày và được đánh giả là có khả năng tổn thất cao; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại; nợ bị có quyết định thu hồi của thanh tra mà chưa thu hồi được trong 60 ngày; nợ bị có quyết định thu hồi của ngân hàng do khách hàng vi phạm thỏa thuận mà chưa thu hồi được trong từ 30 - 60 ngày. Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn: Bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và là nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi và có khả năng mất vốn; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá từ 91 ngày trở lên theo thời hạn cơ cấu lại lần đầu; nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu theo thời hạn cơ cấu lần 2… Có thể nói, nợ xấu là nợ ở nhóm 3,4 và 5 lần lượt là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Các đặc điểm có thể bao gồm việc chậm trả nợ, mất khả năng thanh toán và vi phạm hợp đồng từ phía người đi vay, vì vậy làm tăng nguy cơ mất vốn cho bên cho vay. Do đó, nợ xấu luôn là mối quan tâm hàng đầu của 15 các tổ chức tài chính cũng như ngân hàng vì chúng có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe tài chính và lợi nhuận của các tổ chức.
Chỉ tiêu đo lường nợ xấu Bài khóa luận sử dụng chỉ tiêu đo lường nợ xấu là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - tỷ lệ thông dụng ở các NHTM Việt Nam và đã có nhiều thử nghiệm sử dụng tỷ lệ này điển hình như Trần Vương Thịnh và Nguyễn Thị Hồng Loan (2021). Do đó, ở nghiên cứu này tác giả sử dụng giá trị dư nợ ở nhóm 3, 4 và 5, cũng như tổng dư nợ trong các báo cáo chính thức của các NHTM để đo lường tỷ lệ nợ xấu này. Việc sử dụng chỉ tiêu này bởi vì đây là một chỉ tiêu đơn giản, dễ tính toán với các số liệu lấy được từ các bảng báo cáo tài chính. Chỉ tiêu này cũng cung cấp thông tin tổng quan về sức khỏe tài chính của các ngân hàng, giúp ngân hàng có cái nhìn rõ ràng và nhanh chóng về mức độ rủi ro so với các đối thủ cùng ngành, đồng thời đánh giá được khả năng đối mặt với những thách thức từ nợ xấu mà không ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng.
Dư nợ nhóm 3,4,5 Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ 2. Khái quát về khả năng sinh lời của ngân hàng 2. Khái niệm Khả năng sinh lời của ngân hàng là một khái niệm chỉ sự có khả năng của ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh và tài chính. Đây là một phần quan trọng của hoạt động ngân hàng và liên quan đến khả năng của ngân hàng để thu hút vốn, quản lý rủi ro, thực hiện các dịch vụ tài chính để tạo ra thu nhập và với mục tiêu chính là tối ưu hóa thu nhập và giảm thiểu rủi ro.