CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên của khóa luận tập trung vào việc khẳng định tầm quan trọng và đặt ra ưu tiên cho việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu trong các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Khóa luận này đề ra các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, dựa trên một mục đích nghiên cứu chung. Đồng thời, phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu được mô tả một cách rõ ràng trong chương này, với sự tập trung vào việc phân tích 25 Ngân hàng thương mại Việt Nam qua một khoảng thời gian 13 năm, từ 2010 đến 2022. Tác giả đã áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để kiểm tra sự biến đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu theo thời gian, dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu trước đó.
Cuối cùng, cấu trúc của khóa luận được giới thiệu qua 5 chương, với việc nhấn mạnh đến những điểm nổi bật và quan trọng của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN NỢ XẤU NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về nợ xấu Các tổ chức Tài chính và Ngân hàng Quốc tế hiện đang sử dụng các định nghĩa riêng về nợ xấu cùng với các phương pháp và biểu hiện tương ứng trong thực tế ngày nay.
Một số phương pháp tiếp cận dựa trên các tiêu chí như thời gian nợ quá hạn và khả năng thanh toán của người vay. Ví dụ, từ năm 2002, Ngân hàng Thế giới đã xác định nợ xấu là các khoản nợ có mức độ rủi ro cao và khó thu hồi, đặc biệt là khi người vay phá sản hoặc tài sản không còn giá trị. Theo tiêu chí này, nợ được coi là dưới chuẩn nếu quá hạn từ 90 đến 180 ngày; và nợ nghi ngờ khi có khả năng không thu hồi được toàn bộ dựa trên điều khoản hợp lý, với thời gian quá hạn từ 180 đến 360 ngày. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) năm 1988 lại không đưa ra một thời gian quá hạn cụ thể cho khi nào một khoản nợ được coi là "xấu", mà xem xét đến việc ngân hàng nhận định người vay không có khả năng trả đủ nợ mà không cần thực hiện biện pháp thu hồi.
BCBS không tập trung vào thời gian quá hạn cụ thể do sự khác biệt về báo cáo nợ xấu dựa trên thời gian quá hạn ở các quốc gia. Có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau về khái niệm nợ xấu, dựa trên đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia và thái độ của các tổ chức khác nhau. “Non-performing loan (NPL)”, “Bad debt” hoặc “Doubtful debt” là những thuật ngữ chính được sử dụng trong nghiên cứu trước đây để mô tả các khoản nợ khó đòi. “Nợ khó đòi” dùng để chỉ các khoản cho vay không tạo ra lợi nhuận trong thời gian dài, hoặc các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và chưa thu hồi đầy đủ.
Khi thảo luận về những khó khăn về nợ xấu, sau đây là một số ý tưởng hoặc tiêu chuẩn về nợ xấu thường được sử dụng. Nợ khó đòi, theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB-European Central Bank), là những khoản cho vay không trả được (những khoản nợ đã đến hạn trả hoặc không có căn cứ để đòi người dân bồi thường). Hoặc người thực hiện nghĩa vụ nợ đã đi hoặc đang lẩn trốn, không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ và không hoàn trả lại 8 hết nợ cho ngân hàng (là khoản nợ không có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản để thanh toán đủ để trả khoản vay). Theo quan điểm này, nợ xấu được xác định bởi hai yếu tố: (1) Là khoản vay không có khả năng hoàn trả; (2) Khoản vay không được thu hồi hoàn toàn.
Do đó, việc giải thích nợ xấu của ECB phụ thuộc vào kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Hơn nữa, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) có quan điểm về nợ xấu là một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ khó đòi) khi tiền được trả lãi và/hoặc gốc đã quá hạn 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi cho 90 ngày trở lên đã được cơ cấu lại hoặc gia hạn hoặc các khoản thanh toán chưa quá 90 ngày nhưng có lý do để nghi ngờ rằng việc hoàn trả sẽ không được thực hiện đầy đủ. Nợ xấu được xác định bởi hai yếu tố, theo IMF: (1) Đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày; (2) Khả năng trả nợ bị nghi ngờ. So với quan điểm của ECB, quan điểm của IMF về nợ xấu đưa ra một góc nhìn khác về thành phần thời gian trễ hạn, bên cạnh kết quả thu hồi nợ của ngân hàng.
Đây là quan điểm được chấp nhận và thường dùng nhất trên thế giới. “Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đến hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khoản nợ sẽ thanh toán đầy đủ” (Theo IMF) Dựa trên Thông tư 11/2021/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành vào ngày 30 tháng 7 năm 2021, "nợ khó thu hồi" được xác định là những khoản nợ thuộc vào ba nhóm rủi ro cao là nhóm 3, 4 và 5 theo quy định tại các Điều 10 và 11 của thông tư này. Cụ thể, nhóm 3 bao gồm các khoản nợ có thời gian quá hạn từ 90 đến 180 ngày và những khoản nợ đã được cơ cấu lại với thời hạn thanh toán dưới 90 ngày. Nhóm 4 bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày và những 9 khoản nợ đã được cơ cấu lại với thời hạn thanh toán quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
Nhóm 5, được xem là có nguy cơ mất vốn, bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ đang chờ quyết định xử lý của Chính phủ, và các khoản nợ đã cơ cấu lại nhưng vẫn quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại. Trong khuôn khổ của khóa luận này, tác giả mô tả nợ xấu như sau: Nợ xấu (hay còn gọi là nợ không đạt chuẩn) là những khoản nợ có thời gian quá hạn và gây ra sự nghi ngờ về khả năng thanh toán của người vay, như việc người vay không thể hoàn trả đủ số tiền theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng 2. Phân loại nợ xấu Phân loại nợ là quá trình ngân hàng xem xét danh mục cho vay của mình và chia các khoản cho vay thành các loại tùy thuộc vào rủi ro và đặc điểm của chúng. Ngân hàng thế giới (World Bank) đã phân loại nợ như sau: Bảng 2.
Phân loại nợ của Ngân hàng thế giới Khoản vay Đặc điểm Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ Đạt tiêu Tài sản được đảm bảo thanh khoản bằng tiền hoặc tương đương tiền chuẩn Quá hạn dưới 90 ngày Khả năng trả được nợ liên quan đến: Cần theo dõi Hoàn cảnh tài chính khó khăn hay điều kiện kinh tế; Quá hạn dưới 90 ngày Các đặc điểm xấu về tín dụng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ: Dưới tiêu Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại chuẩn Quá hạn từ 90 – 180 ngày 10 Không chắc thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại: Đáng ngờ Có khả năng thất thoát Quá hạn từ 180 – 360 ngày. Các khoản vay không thu hồi được Mất vốn Quá hạn hơn 360 ngày. Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ World Bank Publications, 2003 Theo Laurin và cộng sự. (2002), rất khó để có một chuẩn mực kế toán quốc tế thống nhất để đánh giá và tiến hành phân loại nợ.
Nghiên cứu do Lastra và đồng nghiệp thực hiện vào năm 2016 đã chỉ ra rằng có sự đa dạng trong cách phân loại nợ tại các quốc gia thuộc nhóm G-20. Mặt khác, các giám sát viên ngân hàng yêu cầu các ngân hàng phải có đầy đủ cơ chế quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm cả việc xem xét các khoản vay thường xuyên. Nợ xấu được xác định trong công cụ phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, theo thông tư 11/2021/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành vào ngày 30 tháng 7 năm 2021. Chia thành 5 nhóm nợ theo cách tiếp cận định lượng.
Nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là các khoản nợ được xếp vào nợ xấu của ngân hàng. Về phân loại nhóm nợ, Việt Nam ngang hàng với một số nước trên thế giới trong đó có Mỹ, Singapore, Trung Quốc,.Điểm chung của các nhóm nợ là cơ sở để phân loại 5 nhóm nợ và giải thích ý nghĩa cơ bản của mỗi nhóm nợ ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Nghiên cứu của tác giả cho rằng các NHTM ở Việt Nam nên tập trung vào việc phân loại nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để làm cơ sở tính nợ xấu. Phân loại nợ tại Việt Nam Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính Nợ đủ tiêu Nợ trong hạn hoặc quá hạn dưới 10 Có khả năng thu hồi đầy đủ cả chuẩn ngày nợ gốc và lãi đúng hạn Có khả năng thu hồi đầy đủ cả Nợ cần Quá hạn 10 – 90 ngày, nợ điều chỉnh gốc và lãi, nhưng có dấu hiệu chú ý hạn trả nợ lần đầu suy giảm khả năng trả nợ Không có khả năng thu hồi nợ Nợ dưới Quá hạn 91 – 180 ngày, nợ gia hạn gốc và lãi khi đến hạn, có khả tiêu chuẩn lần đầu, miễn hoặc giảm lãi năng tổn thất Nợ nghi Quá hạn 180 – 360 ngày, nợ cơ cấu Có khả năng tổn thất cao ngờ lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Nợ có khả Nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ có cơ Không còn khả năng thu hồi, năng mất cấu lại thời hạn trả lần 1, 2 nhưng mất vốn vốn quá hạn nợ cơ cấu lần thứ 3 trở lên Nguồn: Tác giả trích từ Điều 10 thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước 2.
Các chỉ tiêu đánh giá về nợ xấu Tại Việt Nam, nợ xấu được hiểu là những khoản nợ đang tồn tại trên danh mục tín dụng của ngân hàng có chất lượng dưới chuẩn trong hệ thống phân loại nợ của ngân hàng. Tiêu chuẩn của Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Dựa trên Thông tư 11/2021/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành vào ngày 30 tháng 7 năm 2021.