Chương 1 còn đề ra mục tiêu từ tổng quát đến cụ thể. Dựa trên các dữ liệu thu thập được từ Báo cáo tài chính của các Ngân hàng Thương mại trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2022, tác giả đưa ra biến độc lập và các biến phụ thuộc sẽ được sử dụng trong bài viết. Cuối cùng, cấu trúc các chương được tóm tắt và nêu rõ nội dung của từng chương. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Tổng quan về nợ xấu 2. Khái niệm về nợ xấu Đối với nền kinh tế của các nước trên thế giới, ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường, giữa nơi thừa vốn và nơi đang tìm kiếm nguồn vốn để phát triển, mở rộng. Với những chức năng quan trọng như tín dụng và cho vay, việc quản lý rủi ro tín dụng là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng. Trong số đó, nợ xấu là yếu tố ảnh hưởng lớn đến rủi ro tín dụng.
Các thuật ngữ “Non- performing loan” và “Doubtful debt” là những từ ngữ thường được đề cập khi mô tả về nợ xấu. Nợ xấu sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và gây ra thua lỗ. Điều này không chỉ ảnh hưởng riêng đến ngân hàng mà còn tác động đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế khi ngân hàng không thể đáp ứng được nhu cầu cho vay. Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), một khoản nợ được cho là nợ xấu khi Ngân hàng đánh giá rằng người đi vay không có khả năng trả nợ hoặc khi khoản nợ bị quá hạn 90 ngày trở lên.
Đối với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hướng dẫn của Financial Soundness Indicators (FSI) (2019) giải thích rằng một khoản nợ được coi là nợ xấu khi (1) Khoản thanh toán gốc và lãi đã quá 90 ngày hoặc hơn, (2) Các khoản thanh toán lãi suất bằng hoặc vượt quá 90 ngày đã được tái đầu tư vào gốc, tái tài trợ hoặc gia hạn (thỏa thuận trì hoãn thanh toán) hoặc (3) Có bằng chứng để phân loại chúng như là nợ không thể thu hồi dù không có khoản thanh toán quá hạn 90 ngày, ví dụ như khi người đi vay đăng ký phá sản. Đây cũng là cách thức phân loại nợ được sử dụng phổ biến tại các hệ thống ngân hàng trên thế giới. Tại Việt Nam, dựa vào Thông tư số11/2021/TT-NHNN về việc "Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài" có nêu rõ: nợ xấu (NPL) là nợ nội bảng, thuộc các nhóm nợ 3, 4 và 5 được 9 quy định tại Điều 10 và Điều 11 thuộc Thông tư này. Theo đó, Điều 10 phân loại theo phương pháp định lượng bao gồm thời gian trả nợ gốc và lãi vay.
Điều 11 phân loại các nhóm nợ dựa trên phương pháp định tính dựa trên khả năng thu hồi nợ của các tổ chức tín dựng và khả năng trả nợ của khách hàng. Phân loại nợ xấu Theo Basel II (2004) yêu cầu các ngân hàng phân loại các khoản vay không thể thu hồi theo số ngày rủi ro và dự phòng được sử dụng trong việc phân tích mức độ nợ không thể thu hồi. Phân loại này bao gồm: Bình thường: các khoản vay có khả năng thanh toán dưới 30 ngày rủi ro và được dự phòng với tỷ lệ 1%. Theo dõi: các khoản vay có gốc hoặc lãi phải trả mà chưa được thanh toán trong khoảng thời gian từ 31 đến 90 ngày và được cấp dự phòng 3%.
Kém chất lượng: các khoản vay quá hạn trên 90 ngày nhưng dưới 180 ngày và được cấp dự phòng 20%. Khả nghi: các khoản vay quá hạn trên 180 ngày và được cấp dự phòng 100%. Thiệt hại: các khoản vay được coi là không thể thu hồi và quá hạn trên 360 ngày và được cấp dự phòng 100%. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005 của Thống đốc NHNN ngày 22/4/2000 và theo Điều 6 Quyết định số 22/VBHN-NHNN thì nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm nợ 3, 4 và 5 được quy định tại Điều 6 và Điều 7 được phân biệt lần lượt dựa vào phương pháp định lượng và định tính.
Các khoản nợ được quy định tại Điều 6 và Điều 7 như sau: Bảng 2. Phân loại các nhóm nợ Điều 6 Nhóm 1. Nợ đủ tiêu - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là chuẩn có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Nợ cần chú ý - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).
Nợ dưới tiêu - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; chuẩn - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Nợ nghi ngờ - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. Nợ có khả - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; năng mất vốn - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Nợ đủ tiêu Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả chuẩn năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Nợ cần chú ý Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Nợ dưới tiêu Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không chuẩn có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nợ nghi ngờ Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao.
Nợ có khả Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không năng mất vốn còn khả năng thu hồi, mất vốn. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), nợ xấu của NHTM được cho là được cấu thành từ ba nhân tố gồm môi trường kinh tế xã hội, môi trường nội tại của NHTM và môi trường từ phía khách hàng. Môi trường kinh tế xã hội. Một môi trường kinh tế xã hội có tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ thường đi đôi với sự tăng trưởng thu nhập và khả năng thanh toán của người dân và doanh nghiệp.
Khi kinh tế phát triển, thu nhập tăng, việc làm tăng và mức độ nợ xấu có thể giảm do khả năng thanh toán của người đi vay tăng lên. Ngược lại, một môi trường kinh tế suy thoái có thể tạo ra tác động ngược lại, làm tăng mức độ nợ xấu khi người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ. Bên cạnh đó lãi suất cao có thể tạo nên gánh nặng tài chính cho người đi vay và doanh nghiệp, làm 12 tăng khả năng không thể trả nợ đúng hạn và dẫn đến nợ xấu. Ngược lại, lãi suất thấp có thể làm giảm gánh nặng tài chính và giúp giảm mức độ nợ xấu.
Chính sách tài chính và hỗ trợ từ chính phủ có thể có tác động đến mức độ nợ xấu. Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính, như chính sách giảm thuế, chính sách vay vốn ưu đãi hoặc trợ cấp tài chính để giảm áp lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp. Những biện pháp này có thể giúp giảm mức độ nợ xấu. Môi trường nội tại.
Một hệ thống quản lý rủi ro mạnh mẽ và hiệu quả là yếu tố quan trọng để giảm thiểu tầm ảnh hưởng của nợ xấu lên hệ thống ngân hàng. Ngân hàng cần có chính sách và quy trình rõ ràng để đánh giá và quản lý rủi ro trong quá trình cho vay. Nếu các quy trình kiểm soát rủi ro không được thực hiện tốt, ngân hàng có thể dễ dàng cho vay cho những khoản vay không an toàn, dẫn đến tăng rủi ro không thu hồi được nợ. Hệ thống quản lý hoạt động hiệu quả sẽ đưa ra những chính sách cho vay phù hợp.
Nếu ngân hàng không áp dụng tiêu chuẩn cho vay chặt chẽ, không kiểm tra khả năng tài chính của khách hàng một cách cẩn thận, có thể dẫn đến việc cho vay cho những khách hàng không đủ khả năng trả nợ. Ngoại trừ việc xây dựng chính sách cho vay, việc quản lý và giám sát tài sản cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc quản lý nợ xấu. Nếu ngân hàng không thực hiện quản lý tài sản cẩn thận, không đánh giá và định giá tài sản đúng cách, có thể dẫn đến sự chồng chéo tài sản xấu và nợ xấu. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ và tạo ra mức độ nợ xấu cao hơn.
Khi phát sinh hoạt động tín dụng, việc xây dựng quy trình thu hồi nợ của ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm mức độ nợ xấu. Nếu ngân hàng không có quy trình hiệu quả để thu hồi nợ, không thực hiện các biện pháp pháp lý hoặc không có sự tập trung và quyết liệt trong việc thu hồi nợ, mức độ nợ xấu có thể tăng lên. Quy trình thu hồi nợ nghiêm ngặt và hiệu quả có thể giúp ngân hàng giảm thiểu mức độ nợ xấu.