chương 1 trình bày các bố cục tổng quát của nghiên cứu. 5 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC CÓ LIÊN QUAN Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp, xác định tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp, đồng thời hệ thống hoá vấn đề nghiên cứu thông qua các nghiên cứu trước đây của trong và ngoài nước. Chƣơng 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 3 trình bày về phương pháp, quy trình nghiên cứu, quá trình thu thập thông tin, thống kê và sàng lọc số liệu, xây dựng giả thuyết nghiên cứu, công cụ xử lý dữ liệu và các kỹ thuật xử lý phân tích dữ liệu trong quá trình nghiên cứu. Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 4 trình bày và diễn giải kết quả nghiên cứu định lượng thông qua việc phân tích dữ, xử lý các dữ liệu đã thu thập thông qua phần mềm stata, bao gồm: Kết quả thống kê mô tả mẫu, phân tích tương quan hồi quy, kiểm định các giả thuyết… Từ đó đưa ra lời giải thích về tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc.
Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Trong phần cuối này, tác giả rút ra các kết luận liên quan về vấn đề nghiên cứu. Từ đó, tác giả gợi ý một vài giải pháp cho các nhà quản trị ngân hàng, nêu ra một vài điểm hạn chế của nghiên cứu này và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chương này tác giả trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và sự đóng góp của đề tài. Những định hướng nệu trên là nền tảng để tác giả trình bày khoá luận này ở những chương tiếp theo.
7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khái niệm về cấu trúc vốn Mỗi tác giả sẽ nghiên cứu khác nhau về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và có những nhận định riêng về vấn đề nghiên cứu, nhưng chung quy lại sẽ có điểm tương đồng trong bản chất vấn đề được nghiên cứu. Ross và cộng sự (2003) nhấn mạnh,“Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN” Theo Puja (2021) cho rằng, “Cấu trúc vốn đề cập đến nguồn tài chính vĩnh viễn của DN, được thể hiện bằng vốn chủ sở hữu và vốn vay trên tổng nợ (tức là cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu VCSH, dự trữ và Nợ dài hạn). CTV bao gồm tất cả quỹ dài hạn được đầu tư vào kinh doanh dưới hình thức cho vay dài hạn, cổ phần ưu đãi và nợ, gồm VCSH và dự trữ.” Theo Abor(2005) Cấu trúc vốn được định nghĩa “là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu của công ty.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều nguồn vốn thay thế cho cấu trúc vốn,các công ty có thể phát hành trái phiếu chuyển đổi, hoặc có thể phát hành nhiều loại chứng khoán khác nhau với vô số cách kết hợp để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.” Theo Lưu Thị Hương (2012) “ Theo cách chia phổ biến nhất nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. Nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Vốn của chủ sở hữu bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, vốn huy động bằng cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn” Nguyễn Tuyết Khanh (2016) Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được định nghĩa là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh 8 nghiệp.
Ngược lại cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp. Như vậy, cấu trúc vốn chỉ là một phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các nguồn thường xuyên của tài trợ một doanh nghiệp. Qua các khái niệm về cấu trúc vốn của các tác giả được trình bày ở trên, cho thấy các định nghĩa về cấu trúc vốn đều có những đặc điểm và bản chất giống nhau. Đó là sự kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau, bao gồm cả nợ và vốn chủ sỡ hữu, nhằm để đầu tư và tài trợ cho các HĐKD của doanh nghiệp.
Đồng thời, doanh nghiệp sử dụng nợ hay còn được gọi là đòn bẩy tài chính để tài trợ cho việc sở hữu và quản lý tài sản. Các nguồn tài trợ chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm: - Nợ phải trả phản ánh các nguồn vốn tạo thành thông qua quá trình doanh nghiệp mua sắm chịu hàng hoá và dịch vụ của nhà cung cấp, chiếm dụng vốn ngắn hạn (người lao động, tiền thuế nhà nước, các quỹ,.), vay mượn, nguồn vốn khác. Căn cứ vào thời gian hoàn trả, nợ phải trả được chia thành 2 nhóm:Nợ ngắn hạn – các khoản nợ có thời gian hoàn trả không vượt quá 12 tháng, thường được đầu tư vào nhóm tài sản ngắn hạn và đặc điểm của nó là doanh nghiệp được sử dụng với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng lại đặt ra áp lực thanh toán cao đối với DN. Nợ dài hạn –bao gồm các khoản nợ có thời gian hoàn trả từ 12 tháng trở lên, doanh nghiệp có thể huy động thông qua kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, vay nợ trung dài hạn từ một số tổ chức tín dụng,.
- VCSH được hình thành do sự đóng góp từ các chủ sở hữu,lợi nhuận mà DN tích luỹ được thông qua kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đạt được cùng với các khoản dự trữ,thặng dư vốn cổ phần. Đặc điểm nỗi bật VCSH là không có thời gian hoàn trả, chi phí sử dụng VCSH sẽ cao hơn chi phí sử dụng nợ và đây là nguồn tài trợ có tính ổn định cao. Đo lƣờng cấu trúc vốn của doanh nghiệp Jaworski (2018) Quyết định về cấu trúc vốn đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp, bởi vì cấu trúc vốn tác động đến rủi ro tài chính, 9 chi phí bình quân của việc sử dụng vốn, tỷ suất sinh lời của chủ sở hữu và giá trị của doanh nghiệp. Chính vì thế, để biết được tương quan giữa các hình thức tài trợ cho quá trình thực hiện quản lý hoạt động kinh doanh của DN, có một số chỉ tiêu phản ánh đến cấu trúc vốn khi phân tích cụ thể như sau: Hệ số nợ Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp hay tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi bao nhiêu % là nợ.
Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn là nợ, điều này tương ứng với tăng rủi ro tài chính và giảm khả năng thanh toán. Hệ số nợ cao, DN có thể đối mặt với những khó khăn trong việc huy động thêm vốn từ bên ngoài để đầu tư cho mục đích kinh doanh. Ngược lại, hệ số nợ thấp có thể làm giảm rủi ro mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp linh hoạt chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn. Tuy nhiên, mức độ sử dụng nợ thấp cũng có thể cho rằng doanh nghiệp chưa hiệu quả trong việc tận dụng kênh huy động vốn thông qua nợ va, và chưa khai thác đầy đủ tiềm năng của đòn bẩy tài chính để tối ưu hoá giá trị doanh nghiệp, 2.1 Hệ số nợ = Hệ số tự tài trợ Chỉ tiêu này thể hiện phần trăm của vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.Giá trị này càng lớn càng chứng minh được vấn đề về khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng mạnh mẽ, khả năng thanh toán, khả năng bù đắp tổn thất từ nguồn vốn ổn định, an toàn là khá lớn.
Hệ số tự tài trợ lớn hơn 50% cho biết cơ cấu vốn nghiêng về VCSH. Hệ số tự tài trợ và hệ số nợ tỷ lệ ngược chiều nhau. Do đó, khi phân tích, các nhà phân tích sẽ lựa chọn một trong hai chỉ tiêu này.2 Hệ số tự tài trợ = Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: 10 Chỉ tiêu này cho biết cho biết một đồng vốn chủ sở hữu thì đang phải gánh chịu bao nhiêu đồng nợ. Nếu hệ số này vượt quá 1điều này chỉ ra rằng nợ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với VCSH và ngược lại.
Doanh nghiệp cần cân nhắc giữa rủi ro tài chính và tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế của lãi vay, tăng nợ vay để tạo nên một tỷ lệ nợ trên VCSH phù hợp có thể mang lại nhiều lợi ích và hiệu quả cho quá trình hoạt động của DN.3 Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Hệ số đòn bẩy tài chính Chỉ tiêu này cho biết tổng nguồn vốn của doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần so với VCSH. Khi hệ số đòn bẩy tài chính vượt quá 2 nghĩa là trong cơ cấu vốn, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn nợ hơn VCSH, tức là cấu trúc vốn tập trung vào sử dụng nguồn nợ.4 Hệ số đòn bẩy tài chính = 2. Khái niệm về giá trị doanh nghiệp Grossman và Stiglitz (1977) Tổng quan, giá trị doanh nghiệp là một chỉ số đo lường hiệu suất hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Theo Ehrahard và Bringham (2003), “Giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị của các bên liên quan đến doanh nghiệp trong đó bao gồm: các chủ nợ và các cổ đông.
Giá trị doanh nghiệp là một trong những thước đo cơ bản được sử dụng trong quá trình định giá doanh nghiệp, mô hình tài chính, kế toán, phân tích danh mục, .” Christiawan và Tarin (2004) Để xác định được giá trị công ty trên thị trường, khái niệm đại diện tốt nhất là giá trị nội tại, tuy nhiên việc ước lượng giá trị nội tại đối mặt với thách thức lớn do yêu cầu phải có khả năng nhận diện các biến có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp, điều này làm cho việc xác định giá trị nội tại trở nên khó khăn. Do đó, giá trị thị trường được ưu tiên sử dụng bởi vì nó dễ dàng trong việc thu thập dữ liệu. 11 Việc xác định giá trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh và phân tích tài chính của DN.