chương 1 tác giả đã nêu lên lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp và dữ liệu nghiên cứu và đóng góp của đề nghiên cứu này. Ngoài ra chương này tác giả trình bày khái quát về kết cấu của khóa luận. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Có nhiều định nghĩa về hiệu quả hoạt động kinh doanh theo “Từ điển Toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh- Việt" trang 255 của PGS. Nguyễn Khắc Minh thì thì "hiệu quả- efficiency" được định nghĩa là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ bên cạnh đó khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào.
Đây là khái niệm chung dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Rose (2004), về bản chất, ngân hàng cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Như vậy, hiệu quả ngân hàng phải được đánh giá ở hai khía cạnh: hiệu quả kinh doanh đối với xã hội và hiệu quả kinh doanh đối với bản thân ngân hàng. Theo ECB (European Central Bank, 2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, kế đến là cài thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Theo Farrell (1957), hiệu quả là một phạm trù được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra trong điều kiện chi phí đầu vào cho trước, hay nói cách khác hiệu quả chính là những lợi ích mang lại từ hoạt động cụ thể. 8 Nguyễn Việt Hùng (2008), cho rằng trong hoạt động của NHTM, hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác và xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Hay hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft, 2008).
Như vậy có thể nói hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là khả năng sử dụng các nguồn lực của ngân hàng (nguồn vốn, nhân lực, công nghệ) để đạt được kết quả tốt nhất, hay khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng.2 Sự cần thiết của việc đánh giá hiệu quả hoạt động. Đối với ngân hàng Theo Nguyễn Thanh Toàn (2016) đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM giúp những người quản lý, điều hành ngân hàng thấy được các lợi thế của chính ngân hàng mình, cũng như những điểm đã đạt được và chưa đạt được, những điểm cần lưu ý… để từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, phù hợp. Như vậy, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng luôn luôn được chú trọng và quan tâm nhằm nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của các NHTM trên thị trường. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động trong một giai đoạn nhất định có thể giúp các nhà quản lý thấy được xu hướng hoạt động và dự đoán được kết quả hoạt động và mức sinh lợi của ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo.
Bên cạnh đó, với hiệu quả hoạt động cao, các chỉ số tài chính lành mạnh có thể sẽ làm gia tăng sự tin tưởng, khả năng cống hiến của người lao động vào ngân hàng và tránh tình trạng chảy máu nguồn nhân lực. Đối với nhà đầu tư 9 Qua việc đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, các nhà đầu tư sẽ thấy được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển, đây là cơ sở cho các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư vào ngân hàng. (Nguyễn Thanh Toàn, 2016) Đối với Ngân hàng Nhà nước Theo Nguyễn Thanh Toàn (2016) việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM giúp Cơ quan Thanh tra, Giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam (theo Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) thực hiện kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo việc các NHTM tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định trong hoạt động ngân hàng. Mặt khác, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM sẽ là nguồn thông tin giúp cho NHNN xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng, có những chấn chỉnh kịp thời để tránh tình trạng ngân hàng hoạt động không hiệu quả dẫn đến thua lỗ, phá sản ảnh hưởng dây truyền trong nghành ngân hàng, khủng hoảng đến toàn bộ nền kinh tế.
Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động là việc làm tất yếu đối với từng ngân hàng và là khâu quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng để tăng cường tính cạnh tranh, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của cả hệ thống ngân hàng.2 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN.1 Mô hình Cấu trúc - Thực thi - Kết quả (Structure – Conduct - Performance) (SCP). Mô hình SCP cho rằng hiệu quả hoạt động được xác định bằng các đặc điểm của cấu trúc thị trường. Mô hình SCP nói về mối quan hệ giữa cấu trúc, hành vi và hiệu quả, sau đó đã mở đặc điểm cấu trúc phù hợp chống lại mô hình cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền về hàng hóa. Kỹ thuật này được phát triển bởi nhà kinh tế học của trường Harvard là Mason (Paul và Glenys Ferguson, 1994).
(Truong Quang Thong, 2012) 10 Mô hình SCP có ba cấu tố chính: cấu trúc ngành, thức hiện thị trường và kết quả thị trường. Một cách cụ thể hơn, cấu trúc ngành đề cập đến những vấn đề bán hàng, việc làm, kỹ thuật, tình trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp và đứng ở tầm vĩ mô nó đề cập đến vấn đề phân phối nguồn lực, vị trí địa lý và mô tả ngành (Gronhaug, 1984). Như một cơ chế truyền dẫn, cấu trúc thị trường ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua hành vi của các doanh nghiệp. Những hành vi này được miêu tả bởi các biến số gồm: chiến lược giá, chiến lược hợp tác, chiến lược quảng cáo, chiến lược nghiên cứu và phát triển cùng năng lực đầu tư (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2010).
Các hành vi này sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Còn cầu tố thứ hai sẽ liên quan đến việc xác định hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và dính liếu đến thông tin thị trường, đầu tư, những hệ thống cải tiến chất lượng, khung pháp lý và môi trường vĩ mô ổn định (Jasjko, 1999). Cuối cùng, cầu tố thứ ba dính líu tới những nỗ lực tối đa hóa phúc lợi của người tiêu dùng bởi việc tạo ra những sản phẩm với mức phí thấp hơn và một sự phân phối hợp lý của những sản phẩm giữa những người tiêu dùng có nhu cầu khác nhau và cũng như thông qua việc cải tiến và đa dạng hóa sản phẩm, kỹ thuật và sự ổn định trong giá cả và việc làm (Delorme, 2002).2 Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure Hypothesis –ESH). Lý thuyết cấu trúc hiệu quả được viết bởi Smirlock (1985), thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa mức độ tập trung thị trường, sự cạnh tranh và hiệu quả.
Giả thuyết này nói rằng các công ty hoạt động hiệu quả có thể giảm chi phí sản xuất do đó có được lợi nhuận cao hơn và thị phần lớn hơn. ESH được sự ủng hộ của Demsetz (1973), lúc đó lý thuyết này còn cho rằng sự tập trung thị trường là kết quả từ hiệu quả vượt trội của các ngân hàng hàng đầu trong việc chiếm thị phần cao trên thị trường.3 Lý thuyết kinh tế về lợi thế quy mô (Economiesof scale theory). Lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Economies of Scale) là lý thuyết kinh tế cung cấp thông tin liên quan đến những lợi ích mà doanh nghiệp nói chung hay ngân hàng nói riêng nhận được khi tiến hành mở rộng quy mô hoạt động (Benston, 1965). Điều này 11 được giải thích như sau: khi tiến hành mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm cho tổng chi phí gia tăng nhưng chi phí trên một đơn vị sản phẩm dịch vụ hay chi phí trên một khách hàng giảm đi, thêm vào đó nếu các khoản chi phí cố định được khai thác và sử dụng tối đa kết hợp với việc vận hành hiệu quả bộ máy tổ chức sẽ góp phần làm nâng cao hiệu quả hoạt động và mang lại cho ngân hàng lợi nhuận cao hơn.
Những lợi ích này có được là do tác động của các yếu tố bên trong ngân hàng và do ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài ngân hàng (Bos & Kool 2001).4 Lý thuyết bất lợi kinh tế vi quy mô (Diseconomies of scale theory) Bất lợi kinh tế khi mở rộng quy mô (Diseconomies of Scale) hay còn được gọi là bất lợi kinh tế do quy mô là lý thuyết kinh tế liên quan đến việc doanh nghiệp hay ngân hàng nếu mở rộng hoạt động quá nhanh sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản mục chi phí và làm gia tăng chi phí bình quân trên một đơn vị một sản phẩm hay chi phí bình phần tính trên một khách hàng (Stigler, 1974). Nếu bất lợi kinh tế do quy mô không tồn tại, mở rộng quy mô hoạt động càng làm cho doanh nghiệp hay ngân hàng hoạt động hiệu quả và khi đó sẽ không còn tồn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Arthur & Sheffrin 2003; Canback, 2006). Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp hay ngân hàng chỉ hoạt động hiệu quả trong giới hạn và các điều kiện cho phép. Hay nói một cách khác luôn tồn tại quy mô hoạt động tối ưu cho từng doanh nghiệp và lợi ích nhờ quy mô không thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp (Riordan & Williamson 1985).