Chương 1 của bài khóa luận, tác giả đã trình bày được lý do chọn đề tài và tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng tới HQTC của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Từ đó xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể ứng với mỗi câu hỏi nghiên cứu, đồng thời tác giả xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài là 24 ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023. Tiếp đến là nội dung cũng như đóng góp của khóa luận và sau cùng tác giả trình bày tổng quan bố cục của bài KLTN gồm 5 chương. Để giải thích cho những câu hỏi nghiên cứu ở trên thì chương kế tiếp tác giả sẽ đưa ra cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài này.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Khái niệm hiệu quả tài chính (Financial Efficiency) được nêu ra trong nhiều nghiên cứu về kinh tế và trong quản trị tài chính. HQTC là sự kết hợp giữa “hiệu quả” và “tài chính” để làm rõ hiệu quả về mặt tài chính từ các hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động tạo ra giá trị về kinh tế.
Tài chính là “phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm (nguồn lực tài chính) nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội”. Việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế được gọi là hiệu quả hoạt động kinh doanh, đây có thể đề cập là HQTC (Nguyễn Quang Minh, 2020). Theo Athanasoglou và ctg (2005), HQTC của ngân hàng rất cần thiết đối với sự bình ổn của nền kinh tế, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái. Có thể nói rằng sự phát triển của hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia phải đi cùng với HQTC của các ngân hàng.
Từ đó, sẽ cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu và phân tích về HQTC của các ngân hàng để nhanh chóng phát hiện ra những điểm yếu và sửa chữa chúng để thúc đẩy sự phát triển vững chắc của nền kinh tế. Tại Việt Nam, Tăng Mỹ Sang (2024) cho rằng HQTC thể hiện kết quả kinh tế đạt được trong một thời gian xác định, được phản ánh qua những dữ liệu công bố trên BCTC của các ngân hàng. Do đó, công cụ đo lường được sử dụng để đánh giá HQTC là phương pháp tỷ số tài chính. Một trong những chỉ số phổ biến nhất là HQTC.
Chỉ số này được đo lường bằng một số chỉ số tài chính như lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc biên lợi nhuận ròng (NIM). Do trong hoạt động, trong kinh doanh của ngân hàng thường dùng đòn bẩy tài chính rất cao nên trong các chỉ số tài chính trên thì tỷ số ROA được các nghiên cứu sử dụng phổ biến nhất để nhận định và đánh giá HQTC của những ngân hàng trong nước. HQTC là kết quả của quá trình quản trị ngân hàng. Dựa vào lý thuyết đại 9 diện, các nhà quản lý ngân hàng phải đưa ra những quyết định chính xác nhằm mục tiêu đem lại hiệu quả cao nhất nhằm tối đa hóa nguồn giá trị từ các cổ đông.
Đặc điểm hoạt động của ngân hàng là chịu ảnh hưởng mạnh bởi nhiều yếu tố khác nhau. Những yếu tố này được chia thành ba nhóm gồm yếu tố nội tại, yếu tố bên ngoài và yếu tố công nghệ. HQTC chung quy được xác định bằng tỉ số giữa kết quả và chi phí được trả ra để nhận được kết quả đó. Cho rằng HQTC đề cập đến việc đáp ứng các yêu cầu cần thiết để cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhất có thể.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu, HQTC của ngân hàng TMCP là khả năng thực hiện các mục tiêu của các NHTM dựa trên các nguồn lực tài chính hiện có bao gồm tài sản, vốn. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại Theo Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự (2020), các nghiên cứu thực nghiệm trước đây sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau để đo lường và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến HQTC của các NHTM Việt Nam. Và các bài nghiên cứu này đo lường HQTC của các NHTM bằng ba chỉ số tài chính: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – ROE (Return On Equity), Tỷ suất sinh lời trên tài sản – ROA (Return On Assets) và Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên – NIM (Net Interest Margin). • Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Theo Sehrish Gul và ctg (2011), chia thu nhập ròng cho tổng tài sản để có được tỷ lệ được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Phần lớn các nghiên cứu ước tính lợi nhuận của các ngân hàng đều sử dụng lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). ROA định lượng thu nhập trên mỗi đồng tài sản và chứng minh việc quản lý ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ nguồn đầu tư thực tế của ngân hàng có hiệu quả như thế nào. ROA càng cao thì khả năng quản lý cơ cấu tài sản cũng như sự linh hoạt trong việc di chuyển giữa các loại tài sản nhằm ứng phó nhanh chóng với những biến động kinh 10 tế càng tốt (Saeed và ctg, 2013), trong khi ROA thấp hơn có thể cho thấy chính sách đầu tư quá tích cực hoặc chi phí vận hành cao (Goyal, 2013). • Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE được gọi là tỷ lệ giữa lợi nhuận và vốn sở hữu (vốn cổ đông) của cổ đông phổ thông.
Nó là chỉ tiêu tài chính đánh giá được khả năng sinh ra tiền lời của công ty từ mỗi đơn vị vốn cổ đông (còn được gọi là tài sản ròng hoặc tài sản trừ đi nợ phải trả). ROE đo lường được sự hoạt động hiệu quả của một công ty sử dụng tiền đầu tư để đạt được tăng trưởng thu nhập. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ số giữa thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang, 2013). Theo Goyal (2013), tỷ lệ này cho thấy mức độ hiệu quả mà các nhà lãnh đạo ngân hàng đã dùng vốn cổ đông.
Tỷ lệ này càng cao có nghĩa là ngân hàng đã dùng vốn cổ đông một cách hợp lý và hiệu quả, ngân hàng đã cân bằng được lượng vốn sở hữu của ngân hàng và lượng vốn ngân hàng đi vay từ đó tận dụng lợi thế chính là khả năng cạnh tranh. • Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) NIM là thước đo sự chênh của thu nhập lãi do ngân hàng làm ra và tiền lãi trả lại cho người cho vay (ví dụ: tiền gửi), so sánh với lượng tài sản tạo ra lợi nhuận của họ. Nó thường được biểu thị bằng phần trăm số tiền mà tổ chức tài chính kiếm được từ các khoản vay trong một khoảng thời gian cụ thể và các tài sản khác trừ đi lãi suất trả cho các khoản vay chia cho số lượng tài sản trung bình mà nó kiếm được thu nhập trong khoảng thời gian đó (trung bình tài sản sinh lời). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được định nghĩa là thu nhập lãi ròng chia cho tổng tài sản thu nhập (Sehrish Gul và ctg, 2011).
Biên lãi ròng là chỉ tiêu đo lường cho thấy được sự chênh lệch giữa khoản lời trong thu nhập mà ngân hàng nhận được đến từ những khoản vay và chứng khoán so với khoản lãi từ chi phí vay của vốn vay. Chỉ tiêu đó đã thể hiện chi phí của các dịch vụ trung gian trong ngân hàng và HQTC của ngân hàng. Biên lãi ròng càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao và ngân hàng càng ổn định. Vì vậy, nó là một 11 trong những thước đo quan trọng về lợi nhuận của ngân hàng.
Tuy nhiên, biên lãi ròng cao hơn có thể phản ánh các hoạt động cho vay rủi ro hơn liên quan đến dự phòng rủi ro cho vay đáng kể (Khrawish, 2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng TMCP Việt Nam 2. Các nhân tố nội tại Các yếu tố quyết định cụ thể của ngân hàng là các yếu tố nội tại được xác định bởi các quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng. Như dư nợ cho vay, tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, tính thanh khoản, quy mô vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính.
Tác giả sử dụng 6 đặc điểm cụ thể của ngân hàng sau đây làm nhân tố nội tại quyết định HQTC của ngân hàng. • Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Nguyễn Việt Hùng (2008) đã chứng minh rằng nợ quá hạn ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Cụ thể, tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao thường đi kèm với khả năng thu hồi nợ kém. Điều này gây áp lực cho tài chính và ảnh hưởng đến khả năng vay vốn tiếp theo của ngân hàng.
Ngân hàng cũng phải dành thêm nguồn lực và thời gian để tìm phương án xử lý với nợ quá hạn, dẫn đến giảm lợi nhuận ròng. Đặc thù của các ngân hàng TMCP là họ hoạt động tạo ra lợi nhuận dựa trên khả năng quản trị và xử lý rủi ro của chính mình. Để đánh đổi tạo ra được lợi nhuận cao thì ngân hàng phải chấp nhận được rủi ro lớn nhưng bên cạnh đó luôn tồn tại những rủi ro lớn như là không thu hồi được vốn (Dietrich và Wanzenried, 2014). Do đó, các khoản nợ xấu (NPL), hay tỷ lệ nợ của nhóm 3, 4, 5 trên tổng khoản nợ ngân hàng cho vay, là một tiêu chí tài chính được dùng làm đại diện cho HQTC của các ngân hàng.
Một số nghiên cứu đã tiết lộ rằng ảnh hưởng dẫn đến rủi ro tín dụng ngày càng tăng có liên quan đến HQTC kém. Nghiên cứu khác cho thấy rằng, các NHTM có số lượng tài sản rủi ro cao có thể nhận được lợi nhuận lớn hơn để bù lại cho những rủi ro tài chính gia tăng. Việc này có khả năng đúng đối với các nền kinh tế đang phát triển, các thị trường mới, nơi mà ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô cao hơn với các thị 12 trường phát triển rất nhiều và sự chênh lệch lãi suất vay của các NHTM có thể tăng lên trước nguy cơ vỡ nợ gia tăng (De Blas, 2013).