CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày tính cấp thiết của việc phân tích các yếu tố tác động đến KNTK. Từ đó, tác giả định hướng được mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, PPNC, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và xây dựng bố cục hoàn chỉnh. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nội dung chương 2 đề cập đến cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về các yếu tố tác động đến KNTK của NHTM Việt Nam. LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 2.
Khái niệm thanh khoản của NHTM Thanh khoản là một yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại của các ngân hàng, và điều đó được nhận thấy rõ nhất thông qua sự kiện khủng hoảng tài chính năm 2008. Khi một ngân hàng bị mất khả năng thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Văn Tiến (2012) định nghĩa về khả năng thanh khoản là khả năng các ngân hang đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tại nước ngoài, theo Alshatti (2015) “Thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn”.
Tuy nhiên, định nghĩa về khả năng thanh khoản do Ủy ban Basel đưa ra trong Hiệp định Basel II (2008) được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu là khả năng ngân hàng vừa tăng tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức cho phép. Từ những định nghĩa trên cách tiếp cận thanh khoản trong bài có thể được hiểu như sau: Thanh khoản của NHTM là khả năng biến đổi linh hoạt của một tài sản bất kỳ thành tiền mặt một cách nhanh chóng với mức chi phí thấp nhất và thanh khoản thể hiện khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng khi đến hạn. Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản Theo Vodová (2013) có hai phương pháp đo lường KNTK của ngân hàng là các tỷ lệ và khe hở thanh khoản. 8 Khe hở thanh khoản được Vodová (2013) đề cập dựa trên bài nghiên cứu của J.Bessis (2009) là sự chênh lệch giữa tài sản có và nợ ở hai thời điểm hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là có một số ít ngân hàng công bố chênh lệch thanh khoản trong báo cáo thường niên. Do đó, việc so sánh một số lượng lớn ngân hàng thường không thể thực hiện được. Tỷ lệ thanh khoản cho biết nguồn dự trữ thanh khoản sẵn có với chi phí thấp của NHTM trong khoảng thời gian ngắn và được tính bằng các chỉ tiêu khác nhau của bảng cân đối kế toán giúp xác định xu hướng thanh khoản chính. Tài sản thanh khoản L1 = x 100% (2.1) Tổng tài sản Nguồn: Vodová.(2013) Tỷ số thanh khoản L1 đo lường mức thanh khoản của ngân hàng.
Tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm: tiền mặt, số dư tại các ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác, chứng khoán nợ do chính phủ phát hành,. Tỷ lệ này càng cao cho thấy thanh khoản của các ngân hàng càng tốt. Tuy nhiên, giá trị cao của tỷ lệ này chưa thực sự hiệu quả vì tài sản thanh khoản mang lại thu nhập thấp hơn và làm tăng chi phí cơ hội cho ngân hàng. Tài sản thanh khoản L2 = x 100% (2.2) Tiền gửi+Nguồn vốn ngắn hạn Nguồn: Vodová (2013) Tỷ lệ thanh khoản L2 cũng được sử dụng khái niệm tài sản thanh khoản.
Tuy nhiên, tỷ lệ này tập trung hơn vào độ nhạy cảm của ngân hàng đối với các loại nguồn vốn được lựa chọn (tiền gửi của hộ gia đình, doanh nghiệp, ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính khác). Giá trị của L2 càng cao thì khả năng hấp thụ cú sốc thanh khoản càng lớn. Khoản cho vay L3 = x 100% (2.3) Tổng tài sản Nguồn: Vodová (2011) 9 Tỷ lệ thanh khoản L3 thể hiện phần trăm khoản vay trên tổng tài sản. Tỷ lệ này cao thì KNTK thấp.
Tác giả chọn tỷ lệ đo lường L1 : “Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản” trong khóa luận tính toán về KNTK của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2023. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC 2. Nghiên cứu nước ngoài Vodová, P. (2013) nghiên cứu các yếu tố quyết định KNTK của NHTM tại Hungary.
Dữ liệu được sử dụng phân tích dựa trên số liệu của Ngân hàng thương mại giai đoạn 2001 – 2010. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả phân tích cho thấy, thanh khoản ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với mức độ an toàn vốn của ngân hàng, lãi suất cho vay và KNSL của ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô ngân hàng, tỷ lệ lãi suất, tiền tệ.
lãi suất điều hành và lãi suất giao dịch liên ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều. Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng GDP và thanh khoản ngân hàng là không rõ ràng. B (2015) nghiên cứu đề tài về các yếu tố quyết định KNTK của 18 ngân hàng tại Tunisia trong giai đoạn từ 2000 – 2010. PPNC là mô hình hồi quy OLS và kiểm định Hausman.
Kết quả cho thấy, tỷ suất lợi nhuận trên VCSH có tác động tích cực đến KNTK. Ngược lại, thu nhập lãi cận biên, tỷ suất sinh lời trên tài sản tăng có tác động tiêu cực. Ngoài ra, KNTK không bị tác động bởi quy mô ngân hàng. (2016) phân tích thực nghiệm về các yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc thù ngân hàng ảnh hưởng đến KNTK của các ngân hàng Ấn Độ.
Dữ liệu được sử dụng nghiên cứu gồm 59 ngân hàng giai đoạn 2000 – 2013. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS. Kết quả là tiền gửi, KNSL, an toàn vốn và lạm phát có tác động tích cực đến KNTK. Ngược lại, quy mô ngân hàng và GDP có tác động tiêu cực.
(2018) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNTK của 23 ngân hàng tại Pakistan giai đoạn 2007 – 2016. PPNC sử dụng mô hình hồi quy GLS và kiểm định Hausman. Dữ liệu được sử dụng phân tích dựa trên số liệu báo cáo hàng năm do các ngân hàng công bố. Kết quả cho thấy chi phí vốn, tỷ lệ an toàn vốn và quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều đến KNTK.
Mặt khác, tiền gửi có tác động ngược chiều.(2022) nghiên cứu các yếu tố quyết định KNTK của ngân hàng tại Pakistan. Dữ liệu được sử dụng phân tích dựa trên số liệu BCTC đã kiểm toán của 32 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS. Kết quả cho thấy KNSL, hiệu quả quản lý, chất lượng quản lý, tỷ trọng vốn trên tổng tài sản, có ảnh hưởng tích cực đến KNTK.
Ngược lại, quy mô và biên lãi ròng có ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu trong nước Vũ Thị Hồng (2015) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KNTK của các NHTM Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được sử dụng từ BCTC của 37 NHTM Việt Nam từ 2006 – 2011. PPNC là mô hình hồi quy OLS và kiểm định Hausman.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ VCSH, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lợi nhuận có mối tương quan thuận; quy mô ngân hàng và tỷ lệ cho vay trên huy động có mối quan hệ ngược chiều với KNTK. Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Thanh Lâm (2016) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KNTK tại các NHTM Việt Nam. Dữ liệu được sử dụng phân tích dựa trên số liệu BCTC đã kiểm toán của 32 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS và kiểm định VIF.
Kết quả cho thấy ba nhân tố tác động đến KNTK của ngân hàng. Trong đó, quy mô ngân hàng tác động cùng chiều với KNTK. Hai nhân tố còn lại có tác động ngược chiều là tỷ lệ tổng dư nợ cho vay/ tổng tiền gửi khách hàng và tỷ lệ giữa VCSH / tổng tài sản có ngân hàng. Lê Hoàng Vinh và Trần Phi Dũng (2020) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến KNTK của các NHTMCP Việt Nam.
Nguồn liệu dựa trên BCTC đã được kiểm toán 11 từ 23 NHTMCP Việt Nam. PPNC sử dụng mô hình hồi quy OLS và kiểm định Breusch - Pagan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, KNSL, hiệu quả hoạt động cùng chiều với KNTK. Trong khi đó, lượng tiền gửi của khách hàng, quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản ảnh hưởng ngược chiều.
Đặng Thị Quỳnh Anh và Trần Lê Mai Anh (2022) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2020. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 15 ngân hàng. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy FEM và REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ suất sinh lời trên VCSH có mối tương quan thuận với KNTK.
Bên cạnh đó, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên tổng huy động ngắn hạn lại có mối quan hệ nghịch chiều. Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của 24 Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022. Phương pháp nghiên cứu là mô hình hồi quy OLS, FEM và REM cùng với kiểm định và khắc phục khuyết tật bằng mô hình GLS. Kết quả cho thấy, tỷ lệ lợi nhuận, tổng nợ ngắn hạn/ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều với khả năng thanh khoản.
Trong khi đó, quy mô ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản và tổng dư nợ/ tổng tiền gửi khách hàng có tác động ngược chiều. Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các biến Không Yếu tố Cùng chiều (+) Ngược chiều (-) tác động Quy mô ngân Ali Shah, S. (2013) Moussa, hàng Ali Shah, S., Fraz, (2015), Ngọc Diệp và Nguyễn A. (2013) (2023) Thu nhập lãi Moussa, M.
B (2015), cận biên Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023) Lợi nhuận trên Moussa, M. B (2015), VCSH Đặng Thị Quỳnh Anh và Trần Lê Mai Anh (2022) Tiền gửi khách Singh, A. (2018), Lê Hoàng 13 Vinh và Trần Phi Dũng (2020) Hiệu quả chi Lê Hoàng Vinh và Trần phí hoạt động Phi Dũng (2020) Tốc độ tăng Moussa, M. trưởng kinh tế K.
(2016) Tỷ lệ lạm phát Vũ Cẩm Nhung và cộng sự (2023), Đặng Thị Quỳnh Anh và Trần Lê Mai Anh (2022) Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2.