CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI 1.1 Khái niệm về khả năng sinh lời Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, chính vì vậy các doanh nghiệp đều quan tâm đến khả năng sinh lời của chính doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp có khả năng sinh lời thì mới có khả năng tồn tại và phát triển, đây chính là vấn đề nòng cốt của doanh nghiệp. Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính.
Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Ở góc độ của ngân hàng, khả năng sinh lời đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng các tài sản vật chất và tài sản tài chính trong hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro. Khả năng sinh lời có thể được định nghĩa là khả năng kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức, công ty hay doanh nghiệp kinh doanh.
TS Nguyễn Thị Thu Hiền (2017) cho rằng khả năng sinh lời là một thước đo đánh giá tài chính của NHTM dựa trên cơ sở kết hợp nguồn lực sử dụng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng giúp các ngân hàng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm và tăng được lợi nhuận. Với Al-Abedallat (2017) cũng cho rằng khả năng sinh lời là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng và là bằng chứng cho và hiệu quả quản lý và thu hút dòng tiền của ngân hàng. Theo Pandey (1980), khả năng sinh lời là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp. Khả năng sinh lời diễn giải lợi nhuận liên quan đến các yếu tố khác.
Khả năng sinh lời phân tích các biện pháp và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc vốn được sử dụng trong doanh nghiệp hoặc liên quan đến doanh thu. 9 Malik (2011) cho rằng khả năng sinh lời là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính. Mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa sự giàu có của chủ sở hữu và khả năng sinh lời là yếu tố quyết định rất quan trọng của hiệu suất. Khả năng sinh lời liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận nhưng có điểm khác biệt chính.
Trong khi lợi nhuận là một số tiền tuyệt đối, khả năng sinh lời là tương đối. Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả về sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và khả năng sinh lời cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngân hàng, điều mà các NHTM hướng tới. Việc đánh giá khả năng sinh lời giúp cho các ngân hàng nhìn nhận lại tình hình kinh doanh và đưa ra những kế hoạch, giải pháp thay đổi phù hợp.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp Bộ chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ gồm 4 chỉ tiêu là: tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và tỷ lệ hoàn vốn đầu tư.
Để đánh giá khả năng sinh lời của của doanh nghiệp thì các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng, vì nó biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế, thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó. Theo Lesakova (2007) các tỷ suất sinh lời là một chỉ số về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp có tốt hay không và làm thế nào để doanh nghiệp có hiệu quả trong việc quản lý tài sản của mình. Có hai chỉ tiêu tỷ suất sinh lời thường dùng là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE. Có nhiều nghiên cứu sử dụng ROA để đo lường mức sinh lời của doanh nghiệp như nghiên cứu của Goddard, Tavakoli, và Wilson (2005), Malik (2011), Odusanya, Yinusa, và Ilo (2018), Yazdanfar (2013).
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản là chỉ số đo lường mức sinh lợi của một doanh nghiệp so với chính tài sản của nó. Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu 10 đồng lợi nhuận. ROA được các nhà phân tích thị trường sử dụng rộng rãi như một thước đo hiệu quả tài chính, vì nó đo lường hiệu quả của tài sản trong việc tạo ra thu nhập.
Tadesse và Enyew (2019), Rina và Yovin (2016), Mumtaz và Sajjad (2017), Hoàng Phạm Đình Vũ (2014) đã chỉ ra rằng ROA là yếu tố đáng tin cậy được sử dụng để đánh giá lợi nhuận do ROA không chịu ảnh hưởng bởi tác động tài chính cao. Vì vậy, chỉ số này sẽ cho biết một doanh nghiệp sử dụng tài sản để kiếm lời hiệu quả như thế nào. Bên cạnh đó, ROE cũng là thước đo phổ biến được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Alarussi & Alhaderi, 2018; Chander & Aggarwal, 2008). ROE phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn để sinh lời trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu cho thấy rõ, một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc xem xét chỉ tiêu này có một ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá quy mô. Xét khái niệm về KNSL của NHTM, Peter S.Rose (2002) đề cập đến lợi nhuận của NH, hầu hết các ngân hàng thu được lợi nhuận từ hoạt động cho vay từ sự chênh lệch giữa lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất nhận được từ người vay. Ngoài ra các ngân hàng còn có nguồn thu từ đầu tư chứng khoán, nhận lãi từ tiền gửi tại các ngân hàng khác hoặc đến từ các tài sản có sinh lời khác.
Các khoản tiền trả lãi cho các khoản vay, các khoản chi phí vốn tự có, tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên, các chi phí hoạt động có liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tín dụng, thuế và những chi phí khác được xem là các khoản chi phí phát sinh khi tạo ra nguồn thu. Sự chênh lệch giữa các khoản thu và chi đề cập trên chính là phần lợi nhuận của NHTM. Trong nghiên cứu của Peter S. Rose về bản chất thì các NHTM cũng giống như các công ty, doanh nghiệp kinh doanh và hoạt động với mục tiêu cuối là tối đa hóa lợi nhuận trong mức độ rủi ro cho phép.
Chính vì vậy mà KNSL là vấn đề mà các ngân hàng chú trọng hơn là do nguồn thu nhập lớn sẽ góp phần làm cho các ngân hàng có khả năng bảo toàn vốn, từ đó đẩy mạnh khả năng mở rộng thị phần và ngày càng thu hút các nhà đầu tư.1 Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Đây là một chỉ tiêu quan trọng đối với người cho vay: nếu chỉ tiêu này lớn hơn lãi suất cho vay chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, có khả năng thanh toán được lãi vay. Tỷ suất sinh lời của tài sản đo lường kết quả sử dụng tài sản của DN để tạo lợi nhuận. Hệ số này càng cao biểu hiện cho việc sử dụng và quản lý tài sản càng hiệu quả của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân x 100% 1.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất về khả năng sinh lời, ROE càng cao chứng tỏ việc doanh nghiệp sử dụng đồng vốn có hiệu quả, ROE càng cao cũng là lợi thế, thu hút các nhà đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân x 100% 1.3 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) cho biết một đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số này càng lớn chứng tỏ tỷ suất sinh lời càng cao.
Theo Phan Đức Dũng (2008) và Nguyễn Minh Kiều (2009), tỷ số lợi nhuận trên doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của công ty. Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho cổ đông và doanh thu của công ty. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần x 100% 12 1.4 Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn đầu tư (ROI) đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư, thể hiện một đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này càng lớn càng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả.
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) = Lợi nhuận sau thuế / Vốn kinh doanh bình quân x 100% 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1.1 Các yếu tố bên trong Quy mô doanh nghiệp: Trong thị trường tập trung, quy mô doanh nghiệp càng lớn thì khả năng sinh lời càng cao nhờ vào lợi thế kinh tế của quy mô Malik (2011), Yazdanfar (2013), Vătavu (2014), Alghusin (2015), Alarussi và Alhaderi (2018). Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp càng mở rộng quy mô thì việc quản lý càng khó khăn và tốn nhiều chi phí hơn. Sẽ đến một thời điểm lợi thế kinh tế theo quy mô không còn hiệu quả, việc gia tăng sản lượng vượt quá cầu thị trường, không làm gia tăng lợi nhuận (Goddard et al.