Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học của tác giả Hồ Hải Yến, với đề tài "Các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam", được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tô Trung Thành (năm 2022, mã số chuyên ngành: 9310101_KTH).
Về tính cấp thiết, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong việc cung ứng và điều phối vốn cho nền kinh tế Việt Nam. Những tổn thất phát sinh từ nợ xấu, biến động thị trường hoặc suy giảm thanh khoản trực tiếp làm tổn hại nguồn vốn tự có của ngân hàng. Tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR) theo chuẩn mực của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) là thước đo năng lực chống chịu rủi ro của từng định chế và toàn hệ thống. Tại Việt Nam, sau giai đoạn tăng trưởng nóng tín dụng trước năm 2010 gắn liền với sự chuyển đổi các NHTMCP nông thôn sang đô thị và quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, hệ số CAR toàn hệ thống suy giảm và nhiều ngân hàng không đảm bảo ngưỡng tối thiểu 8%. Nhằm khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã ban hành Đề án 254/QĐ-TTg (giai đoạn 2011–2015) tập trung xử lý các ngân hàng yếu kém và Đề án 1058/QĐ-TTg (giai đoạn 2016–2020) hướng đến xử lý triệt để nợ xấu, nâng cao chất lượng vốn theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN tiệm cận chuẩn mực Basel II.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình thực nghiệm trước đây tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở chuỗi dữ liệu trước năm 2018 (chưa phản ánh giai đoạn triển khai Thông tư 41/2016/TT-NHNN và tác động của đại dịch Covid-19 giai đoạn 2019–2020), chưa đưa đồng thời hai giai đoạn tái cơ cấu vào mô hình để lượng hóa sự thay đổi cơ chế tác động đến CAR, và chủ yếu tập trung vào các biến số đo lường rủi ro tín dụng mà bỏ qua rủi ro thị trường (như các khoản đầu tư chứng khoán) cũng như hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) ngân hàng.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là phân tích và đo lường tác động của các yếu tố vĩ mô và vi mô đến CAR của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu, qua đó đề xuất giải pháp cho các NHTM và khuyến nghị chính sách cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng Chính phủ nhằm đáp ứng chuẩn mực Basel II hiện tại và hướng tới Basel III. Luận án cụ thể hóa thành 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Tỷ lệ an toàn vốn là gì? Cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm nào về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) (gồm các yếu tố vĩ mô và các biến số đặc trưng cho NHTM)?
- Thực trạng của CAR và các yếu tố ảnh hưởng đến CAR trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống NHTM tại Việt Nam như thế nào?
- Các yếu tố tác động đến CAR như thế nào và sự tác động đó thay đổi như thế nào trong bối cảnh tái cơ cấu lại hệ thống NHTM?
- Các giải pháp, khuyến nghị như thế nào đối với các NHTM Việt Nam và các cơ quan quản lý để CAR của các ngân hàng đáp ứng chuẩn mực quốc tế?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và các yếu tố tác động đến CAR tại các NHTM trong hệ thống NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các yếu tố kinh tế vĩ mô và các yếu tố nội tại đặc trưng của ngân hàng, đặt trong mối liên hệ với hai giai đoạn đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006–2020, bao gồm giai đoạn trước tái cơ cấu (2006–2010), giai đoạn tái cơ cấu 1 theo Quyết định 254/QĐ-TTg (2011–2015) và giai đoạn tái cơ cấu 2 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg (2016–2020).
- Phạm vi không gian: 35 NHTM Việt Nam hoạt động đến thời điểm tháng 12/2020 (gồm 4 NHTM Nhà nước và 31 NHTM cổ phần). Luận án không bao gồm các ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài do thiếu tính đồng nhất về số liệu công bố hoặc các đơn vị này áp dụng thẳng chuẩn mực Basel III từ ngân hàng mẹ. Đối với các thương vụ M&A, nghiên cứu thu thập dữ liệu theo pháp nhân ngân hàng nhận sáp nhập còn tồn tại đến cuối năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước xoay quanh hai nhóm nhân tố tác động đến CAR:
Nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô:
- Tốc độ tăng trưởng GDP: Các nghiên cứu của Harly (2011), Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016), Juca và cộng sự (2012), Abhay Pant và Ganesh Kumar Nidugala (2017) xác nhận mối quan hệ ngược chiều giữa GDP và CAR, phù hợp với lập luận của Ruckes (2004) và Babihuga (2007) rằng khi kinh tế tăng trưởng thuận lợi, ngân hàng nới lỏng tín dụng và mở rộng tài sản rủi ro nên CAR giảm. Tại Việt Nam, Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tăng trưởng kinh tế và CAR, trong khi Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) ghi nhận mối quan hệ nghịch chiều (mỗi 1% tăng trưởng GDP làm CAR giảm tương ứng).
- Lạm phát: Đa số các công trình quốc tế như Babihuga (2007), Harly Tega (2011), Shaddady và Moore (2015), Aktas và cộng sự (2015) chỉ ra lạm phát có tác động nghịch chiều đến CAR do làm suy giảm biên lợi nhuận, xói mòn vốn thực tế và gây khó khăn trong huy động tiền gửi dài hạn (như phân tích của Ajayi, 2008; Ojo & Adegbite, 2010). Tại Việt Nam, Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) cũng khẳng định tác động nghịch chiều của tỷ lệ tăng trưởng lạm phát đối với CAR.
- Lãi suất: Demirguc-Kunt và Detragiache (1998) và Harly Tega (2011) lập luận lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn và áp lực nợ của bên đi vay, gián tiếp gia tăng tài sản rủi ro. Ogege và cộng sự (2012), Shaddady và Moore (2015) ghi nhận tác động đáng kể của lãi suất thực đến CAR. Tại Việt Nam, nghiên cứu phối hợp biến vĩ mô và vi mô của Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) cùng nghiên cứu của Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) đều chỉ ra tác động nghịch chiều giữa lãi suất và CAR.
Nhóm yếu tố đặc trưng của NHTM:
- Quy mô ngân hàng (SIZE): Demsetz và Strahan (1997), Reynolds và cộng sự (2000), Ayuso và cộng sự (2002), Alfon và cộng sự (2004), Mehdi Mili và cộng sự (2014) ủng hộ chiều tác động âm dựa trên Thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Myers, 1977; Aktas và cộng sự, 2012), cho rằng ngân hàng lớn đa dạng hóa danh mục tốt hơn và tiếp cận thị trường vốn dễ dàng hơn nên giữ CAR thấp hơn. Ngược lại, Gropp và Heider (2007, 2009), Octavia và Brown (2008), Juca và cộng sự (2012) lại chỉ ra mối quan hệ dương do ngân hàng lớn cần giữ mức tín nhiệm cao. Tại Việt Nam, Võ Hồng Đức và cộng sự (2014), Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) tìm thấy tác động nghịch chiều; Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) ghi nhận tác động thuận chiều; còn Phạm Thị Xuân Thoa và cộng sự (2017), Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018) không thấy ý nghĩa thống kê.
- Tỷ lệ tiền gửi (DEP): Phản ánh nguyên tắc kỷ luật thị trường (Berger, 1991; Alfon và cộng sự, 2004; Nier và Baumann, 2002). Kleff và Weiber (2008) thấy tác động khác nhau tùy thuộc mô hình ngân hàng. Asarkaya và Ozcan (2007) ghi nhận tác động âm. Tại Việt Nam, Võ Hồng Đức và cộng sự (2014), Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015), Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018) chỉ ra tác động ngược chiều, trong khi Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) tìm thấy tác động thuận chiều.
- Tỷ lệ cho vay (LOA): Mpuga (2002), Mili và cộng sự (2014) tìm thấy tương quan dương do cho vay làm tăng rủi ro buộc ngân hàng phải dự phòng thêm vốn. Ngược lại, Siti Norbaya Yahaya và cộng sự (2016), Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) tìm thấy quan hệ nghịch chiều.
- Khả năng sinh lời (ROA, ROE): Gắn liền với Thuyết trật tự phân hạng (Myers và Majluf, 1984; Kleff và Weiber, 2008). Admet và Hasan (2011) thấy ROA dương nhưng ROE âm với CAR. Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Vương và Đỗ Thành Trung (2014) chỉ ra ROE tác động âm; Binh, Dao Thanh (2015) thấy ROE dương nhưng ROA âm; Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) không thấy tác động có ý nghĩa thống kê của ROE.
- Hệ số đòn bẩy (LEV), Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), CAR trễ (CAR các năm trước) và Tài sản đầu tư chứng khoán: Được kiểm chứng qua các nghiên cứu của Cornett và Tehranian (1994), Rime (2001), Shrieves và Dahl (2003), Allen và cộng sự (2011), Dia và Giuliodori (2012).
| Hướng nghiên cứu / Nhóm tác giả |
Biến số trọng tâm |
Chiều hướng tác động ghi nhận |
| Alfon và cộng sự (2004), Babihuga (2007) |
CAR trễ (độ trễ điều chỉnh vốn) |
Thuận chiều (tác động trễ có ý nghĩa) |
| Aktas và cộng sự (2012), Wong và cộng sự (2005) |
Tăng trưởng GDP |
Nghịch chiều |
| Babihuga (2007), Trần Thọ Đạt và Tô Trung Thành (2016) |
Lạm phát, Lãi suất |
Nghịch chiều |
| Demsetz và Strahan (1997), Gropp và Heider (2009) |
Quy mô ngân hàng (SIZE) |
Không đồng nhất (âm ở Mỹ, dương ở EU) |
| Myers và Majluf (1984), Admet và Hasan (2011) |
ROA, ROE |
Không đồng nhất theo giả thuyết POH |
| Dia và Giuliodori (2012), BIS (2019) |
Tài sản đầu tư chứng khoán |
Đại diện cho rủi ro thị trường |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án tích hợp bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng thành các biến độc lập thực nghiệm; bổ sung danh mục chứng khoán ngắn hạn và dài hạn để đại diện cho rủi ro thị trường theo Basel II; kiểm định tác động của M&A đến CAR; và mở rộng khung thời gian phân tích từ 2006 đến 2020 trên mẫu 35 NHTM Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các lý thuyết tài chính - ngân hàng và hệ thống chuẩn mực quản trị an toàn vốn quốc tế:
- Hiệp ước Basel I (BCBS, 1988; sửa đổi 1991, 1995, 1996): Đưa ra tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có (Vốn cấp 1, Vốn cấp 2, Vốn cấp 3) chia cho Tổng tài sản có rủi ro quy đổi nội bảng và ngoại bảng (RWA). Trọng số rủi ro nội bảng gồm các mức 0%, 20%, 50%, 100%.
- Hiệp ước Basel II (BCBS, 2004): Cấu trúc thành 3 trụ cột (Pillar 1: Yêu cầu vốn tối thiểu 8% bao gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động; Pillar 2: Quy trình rà soát giám sát nội bộ ICAAP; Pillar 3: Kỷ luật thị trường và công khai minh bạch thông tin). Rủi ro tín dụng được xác định theo phương pháp chuẩn (Standardized Approach) hoặc phương pháp xếp hạng tín nhiệm nội bộ (IRB: Foundation IRB hoặc Advanced IRB dựa trên các tham số PD, LGD, EAD).
- Hiệp ước Basel III (BCBS, 2010): Nâng cao chất lượng vốn, quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu (VCSH) thường tối thiểu 4,5%, Vốn cấp 1 tối thiểu 6%, bổ sung Vốn đệm bảo toàn vốn (Conservation Buffer) 2,5%, Vốn đệm dự phòng chống chu kỳ (Countercyclical Buffer) từ 0–2,5%, Tỷ lệ đòn bẩy (Leverage Ratio) tối thiểu 3%, cùng hai chỉ số thanh khoản LCR và NSFR.
- Thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Static Trade-Off Theory - STOT, Myers, 1977): Giải thích sự cân bằng giữa lợi ích lá chắn thuế của nợ vay và chi phí kiệt quệ tài chính khi ngân hàng đối mặt với rủi ro vỡ nợ.
- Thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - POH, Myers và Majluf, 1984): Phân tích hành vi ưu tiên sử dụng nguồn vốn tài trợ: lợi nhuận giữ lại nội bộ được ưu tiên trước, tiếp đến là phát hành nợ, và cuối cùng mới là phát hành cổ phần mới.
- Nguyên tắc kỷ luật thị trường (Market Discipline, Berger, 1991; Alfon và cộng sự, 2004): Áp lực giám sát từ phía người gửi tiền và các nhà đầu tư buộc các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ vốn an toàn cao hơn mức tối thiểu luật định để tránh việc rút tiền hàng loạt.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Luận án sử dụng bộ dữ liệu mảng (Panel data) cân bằng/không cân bằng của 35 NHTM Việt Nam trong 15 năm (2006–2020), tạo ra hệ thống quan sát đa chiều theo thời gian và không gian.
- Quy trình ước lượng kinh tế lượng: Bắt đầu từ các mô hình hồi quy truyền thống cho dữ liệu mảng gồm Hồi quy gộp (Pooled OLS), Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Kiểm định khuyết tật mô hình: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng ma trận tương quan và hệ số phóng đại phương sai (VIF); kiểm tra phương sai sai số thay đổi (Heteroskedasticity); kiểm tra hiện tượng tự tương quan (Autocorrelation); và kiểm định tính nội sinh (Endogeneity) của các biến trễ CAR cùng các biến tài chính ngân hàng.
- Phương pháp ước lượng chính: Do mô hình chứa biến phụ thuộc trễ ($CAR_{i,t-1}$) dẫn đến hiện tượng nội sinh, đồng thời dữ liệu tồn tại phương sai thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng Phương pháp mô men tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM - S-GMM) theo Arellano và Bover (1995) / Blundell và Bond (1998), kết hợp hiệu chỉnh sai số tiêu chuẩn của Windmeijer. Luận án thực hiện kiểm định Arellano-Bond đối với hiện tượng tự tương quan chuỗi sai số AR(1), AR(2) và kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của các biến công cụ (over-identifying restrictions). Ngoài ra, mô hình còn sử dụng ước lượng Long-run GMM để đánh giá tác động dài hạn của các hệ số có ý nghĩa.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu CAR: Thu thập từ các chỉ tiêu công bố chính thức và báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam qua các thời kỳ điều chỉnh quy chế tính toán của NHNN (Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN giai đoạn 2006–2010; Thông tư 13/2010/TT-NHNN giai đoạn 2010–2014; Thông tư 36/2014/TT-NHNN giai đoạn 2014–2018; và Thông tư 41/2016/TT-NHNN giai đoạn 2018–2020).
- Dữ liệu đặc trưng ngân hàng: Trích xuất từ Báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm, Báo cáo thường niên của 35 NHTM (các biến: quy mô tài sản, tiền gửi, dư nợ cho vay, ROA, ROE, đòn bẩy tài chính, dự phòng rủi ro tín dụng, chứng khoán đầu tư ngắn hạn, chứng khoán đầu tư dài hạn, sự kiện M&A).
- Dữ liệu kinh tế vĩ mô: Số liệu thứ cấp thu thập từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và lãi suất thực tế của Việt Nam giai đoạn 2006–2020.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết về hệ thống NHTM, các nghiệp vụ cơ bản (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, trung gian thanh toán, đầu tư) và vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế. Tác giả phân tích chi tiết quá trình phát triển của các Hiệp ước Basel (Basel I, II, III), nêu rõ công thức xác định hệ số CAR và các phương pháp đo lường ba loại rủi ro chính: rủi ro tín dụng (phương pháp chuẩn và IRB), rủi ro thị trường (tiếp cận chuẩn hóa và mô hình VAR nội bộ), rủi ro hoạt động (phương pháp chỉ số cơ bản BIA và phương pháp đo lường tiên tiến AMA). Chương này trình bày vai trò của CAR như một bộ đệm chống đỡ rủi ro, một công cụ tái cơ cấu danh mục tài sản và bảo vệ người gửi tiền. Tác giả tổng thuật có hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế về tác động của các biến số vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) và các biến số nội tại ngân hàng (quy mô, đòn bẩy, khả năng sinh lời, tiền gửi, cho vay, dự phòng rủi ro, đầu tư chứng khoán, chi phí điều chỉnh vốn thông qua CAR trễ). Cuối chương, tác giả xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam và các yếu tố tác động tới tỷ lệ an toàn vốn
Chương 2 phân tích bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2006–2020 gắn liền với sự biến động của lạm phát, lãi suất thực, cán cân thương mại và mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tăng trưởng tín dụng. Tác giả phân tích cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam: quá trình chuyển đổi ngân hàng nông thôn lên đô thị, sở hữu chéo giữa các tập đoàn kinh tế và ngân hàng, sự phân hóa thị phần tín dụng và huy động giữa khối NHTM Nhà nước và NHTMCP. Thực trạng CAR được mô tả chi tiết qua các giai đoạn pháp lý:
- Giai đoạn trước năm 2010 (Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN): Tín dụng tăng trưởng nóng, tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn cao, nhiều ngân hàng đối mặt với suy giảm CAR nghiêm trọng.
- Giai đoạn tái cơ cấu 2011–2015 (Đề án 254/QĐ-TTg, Thông tư 13/2010/TT-NHNN và Thông tư 36/2014/TT-NHNN): Các thương vụ M&A bắt buộc và tự nguyện được triển khai để giải quyết các NHTMCP yếu kém; vốn tự có của toàn hệ thống được củng cố.
- Giai đoạn tái cơ cấu 2016–2020 (Đề án 1058/QĐ-TTg và Thông tư 41/2016/TT-NHNN): Quá trình xử lý nợ xấu qua VAMC, đẩy mạnh trích lập dự phòng, thí điểm 10 ngân hàng áp dụng chuẩn Basel II. Tác giả so sánh chi tiết phương pháp tính CAR giữa Thông tư 36 và Thông tư 41, chỉ ra rằng việc tính toán theo Thông tư 41 (tiệm cận Basel II) khiến mẫu số RWA tăng mạnh do tính thêm rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường, làm cho CAR danh nghĩa của nhiều ngân hàng giảm nhẹ nhưng phản ánh thực chất hơn độ an toàn vốn.
Chương 3: Kết quả thực nghiệm các yếu tố tác động đến CAR trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại
Chương 3 trình bày khung phân tích, thiết lập mô hình kinh tế lượng và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Mô hình nghiên cứu dạng tổng quát có biến phụ thuộc là $CAR_{i,t}$, các biến độc lập gồm: biến trễ $CAR_{i,t-1}$; nhóm biến vi mô đặc trưng ngân hàng: quy mô tài sản ($SIZE$), tỷ lệ tiền gửi ($DEP$), tỷ lệ cho vay ($LOA$), tỷ suất sinh lời ($ROA$, $ROE$), hệ số đòn bẩy ($LEV$), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ($LLR$), đầu tư chứng khoán ngắn hạn ($ST_SEC$), đầu tư chứng khoán dài hạn ($LT_SEC$), biến sự kiện $M&A$; nhóm biến kinh tế vĩ mô: tăng trưởng kinh tế ($GDP$), lạm phát ($INF$), lãi suất thực ($RIR$); và các biến giả đại diện cho hai giai đoạn tái cơ cấu ($RESTRUCT_1$ cho 2011–2015 và $RESTRUCT_2$ cho 2016–2020) cùng các biến tương tác giữa tái cơ cấu với các yếu tố vi mô/vĩ mô.
Kết quả kiểm định kinh tế lượng:
- Ma trận tương quan và kiểm định VIF xác nhận không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
- Kiểm định Breusch-Pagan và White phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
- Kiểm định Wooldridge xác nhận sự tồn tại của tự tương quan bậc một trong dữ liệu mảng.
- Ước lượng hồi quy S-GMM hai bước giải quyết triệt để các khuyết tật trên. Các kiểm định AR(1) có giá trị p-value < 0,05, kiểm định AR(2) có p-value > 0,05 cho thấy sai số không có tự tương quan bậc hai; kiểm định Hansen/Sargan có p-value nằm trong khoảng hợp lệ chứng minh tính phù hợp của các biến công cụ.
Kết quả hồi quy thực nghiệm chỉ ra:
- Biến trễ $CAR_{i,t-1}$ có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở mức cao, phản ánh chi phí điều chỉnh vốn và tính quán tính trong chính sách duy trì tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam.
- Quy mô ngân hàng ($SIZE$) có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đến CAR, cho thấy các ngân hàng quy mô lớn tại Việt Nam có xu hướng dựa vào vị thế thị trường và khả năng huy động nợ để duy trì mức đệm vốn thấp hơn các ngân hàng nhỏ.
- Tỷ lệ đòn bẩy ($LEV$) có mối quan hệ nghịch chiều chặt chẽ với CAR.
- Dự phòng rủi ro tín dụng ($LLR$) và Tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến CAR, phản ánh áp lực trích lập dự phòng ăn mòn vốn tự có.
- Biến đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn thể hiện rõ tác động của rủi ro thị trường đến hệ số CAR.
- Về các yếu tố vĩ mô, lạm phát và lãi suất thực có tương quan âm với CAR; tăng trưởng GDP thể hiện tác động phụ thuộc vào chu kỳ tín dụng.
- Biến tái cơ cấu: Các đề án 254 và 1058 có tác động làm thay đổi chiều hướng và mức độ tác động của các biến vi mô đến CAR. Quá trình tái cơ cấu buộc các ngân hàng phải kiểm soát tài sản rủi ro và tăng cường chất lượng vốn tự có một cách thực chất hơn.
Chương 4: Một số giải pháp và khuyến nghị để cải thiện tỷ lệ an toàn vốn
Chương 4 đối chiếu định hướng quy định về hệ số CAR hiện nay với các yêu cầu của chuẩn mực Basel III. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược đối với các NHTM Việt Nam:
- Giải pháp tăng vốn: Phát hành cổ phiếu mới, tìm kiếm cổ đông chiến lược nước ngoài, phát hành trái phiếu thứ cấp đủ điều kiện tính vào vốn cấp 2, giữ lại lợi nhuận để bổ sung vốn tự có.
- Giải pháp xử lý nợ xấu: Đẩy mạnh thu hồi nợ, phát mại tài sản bảo đảm, phối hợp hiệu quả với VAMC, áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14.
- Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng: Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, kiểm soát cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao (bất động sản, chứng khoán), giảm thiểu tài sản rủi ro nội bảng và ngoại bảng.
- Giải pháp cải thiện khả năng sinh lời: Đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng, tối ưu hóa chi phí hoạt động.
- Giải pháp nâng cao kiểm toán nội bộ và giám sát hoạt động: Xây dựng quy trình đánh giá tính đầy đủ vốn nội bộ (ICAAP) theo Trụ cột 2 của Basel II.
Đồng thời, chương này đưa ra các khuyến nghị chính sách:
- Đối với NHNN: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tiệm cận Basel III; tăng cường năng lực thanh tra, giám sát dựa trên rủi ro; quản lý chặt chẽ sở hữu chéo và hoạt động M&A ngân hàng; công khai minh bạch dữ liệu toàn ngành.
- Đối với Chính phủ: Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát; phát triển thị trường vốn (thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp) nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; hoàn thiện hành lang pháp lý xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các đóng góp cụ thể về mặt học thuật và thực tiễn như sau:
- Về mặt dữ liệu thực nghiệm: Bổ sung bộ bằng chứng thực nghiệm toàn diện về các yếu tố tác động đến CAR tại Việt Nam trong khung thời gian 2006–2020. Đây là chuỗi số liệu dài, phản ánh trọn vẹn sự chuyển dịch qua nhiều thời kỳ điều chỉnh pháp lý (Quyết định 457, Thông tư 13, Thông tư 36, Thông tư 41) và các cú sốc vĩ mô.
- Về mặt mô hình hóa chính sách tái cơ cấu: Đưa các biến số đại diện cho hai giai đoạn của đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng (giai đoạn 2011–2015 theo Quyết định 254/QĐ-TTg và giai đoạn 2016–2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg) vào mô hình kinh tế lượng, lượng hóa thành công sự thay đổi trong mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố vi mô, vĩ mô đến tỷ lệ an toàn vốn dưới áp lực tái cấu trúc.
- Về mặt mở rộng phạm vi đo lường rủi ro: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam (vốn chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng) bằng cách đưa các biến Đầu tư chứng khoán ngắn hạn và Đầu tư chứng khoán dài hạn vào mô hình. Các biến số này đại diện cho rủi ro thị trường theo đúng tinh thần của chuẩn mực Basel II, nâng cao độ chính xác khi đánh giá an toàn vốn.
- Về mặt tác động của M&A: Bổ sung yếu tố mua bán và sáp nhập ngân hàng đối với biến động hệ số CAR, cung cấp cơ sở thực nghiệm cho các nhà quản lý trong việc đánh giá hiệu quả của giải pháp sáp nhập ngân hàng yếu kém vào các ngân hàng mạnh hơn.
- Về mặt thực tiễn chính sách: Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ tăng vốn, nâng cao chất lượng tài sản, quản trị chi phí đến kiểm soát rủi ro thị trường cho các NHTM, kèm theo lộ trình chính sách khả thi cho NHNN và Chính phủ chuẩn bị cho việc áp dụng chuẩn mực Basel III.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do các NHTM Việt Nam không công bố chi tiết số liệu cấu thành từng khoản mục tài sản rủi ro (RWA) theo từng phân khúc, tác giả không thể tự tính toán độc lập chỉ số CAR theo công thức đồng nhất Basel II cho tất cả các năm mà phải dựa trên số liệu CAR tự tính toán và báo cáo của các ngân hàng. Điều này khiến chuỗi số liệu CAR chịu ảnh hưởng nhất định bởi sự thay đổi của các văn bản pháp quy qua các thời kỳ (Quyết định 457, Thông tư 13, Thông tư 36, Thông tư 41).
- Phạm vi nghiên cứu dừng lại ở 35 NHTM nội địa, chưa bao gồm các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam do hạn chế về công bố dữ liệu.
- Đối với các thương vụ M&A, nghiên cứu chỉ mới theo dõi số liệu của các ngân hàng nhận sáp nhập còn hoạt động đến cuối năm 2020, chưa phản ánh đầy đủ chuỗi dữ liệu trước sáp nhập của các ngân hàng yếu kém bị hợp nhất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khi toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn tất triển khai Thông tư 41/2016/TT-NHNN và tiến tới triển khai quy định theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN (về Trụ cột 2 Basel II), các nghiên cứu tiếp theo có thể thu thập chuỗi dữ liệu RWA đồng nhất để tính toán CAR độc lập.
- Mở rộng phân tích các cấu phần rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường chi tiết hơn khi các ngân hàng áp dụng phương pháp IRB nâng cao.
- Kiểm định thêm tác động dài hạn của các gói hỗ trợ tín dụng và chính sách giãn, hoãn nợ do đại dịch Covid-19 đối với chất lượng vốn tự có của các NHTM trong giai đoạn sau năm 2020.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Tham khảo được khung lý thuyết đầy đủ về ba thế hệ hiệp ước an toàn vốn Basel (I, II, III), hệ thống tổng quan tài liệu đa dạng trong và ngoài nước, cũng như kỹ thuật ứng dụng phương pháp ước lượng hồi quy GMM hệ thống hai bước (Two-step S-GMM) để xử lý biến nội sinh và tự tương quan trong dữ liệu mảng.
- Ban điều hành và bộ phận Quản trị rủi ro tại các NHTM: Tham khảo các phân tích thực nghiệm về mối tương quan giữa quy mô, tăng trưởng cho vay, đầu tư chứng khoán và dự phòng nợ xấu với mức đệm vốn an toàn, từ đó xây dựng kế hoạch quản lý vốn nội bộ (ICAAP) và lộ trình phát hành công cụ vốn cấp 2.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng): Cung cấp luận cứ thực nghiệm về hiệu quả của các Đề án tái cơ cấu 254 và 1058, làm cơ sở để ban hành các quy định pháp lý tiếp theo tiệm cận Basel III và thiết lập công cụ điều hành chính sách tiền tệ hài hòa với mục tiêu an toàn hệ thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng dữ liệu của bao nhiêu ngân hàng thương mại và trong giai đoạn nào?
Luận án sử dụng dữ liệu của 35 NHTM Việt Nam (bao gồm 4 NHTM Nhà nước và 31 NHTM cổ phần) trong khoảng thời gian 15 năm, từ năm 2006 đến năm 2020. Các ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được đưa vào mẫu do thiếu dữ liệu hoặc áp dụng khung chuẩn mực khác.
2. Phương pháp kinh tế lượng chính được sử dụng để ước lượng mô hình là gì và vì sao tác giả lựa chọn phương pháp đó?
Phương pháp ước lượng chính là GMM hệ thống hai bước (Two-step System GMM - S-GMM). Tác giả lựa chọn phương pháp này vì mô hình nghiên cứu có biến phụ thuộc trễ ($CAR_{t-1}$) gây ra hiện tượng nội sinh, đồng thời dữ liệu mảng mắc các khuyết tật về phương sai sai số thay đổi và tự tương quan chuỗi. Các phương pháp OLS, FEM và REM không thể xử lý hiệu quả các khuyết tật này.
3. Luận án đo lường rủi ro thị trường bằng những biến số nào trong mô hình thực nghiệm?
Luận án bổ sung hai biến số đặc trưng cho rủi ro thị trường là biến Đầu tư chứng khoán ngắn hạn và biến Đầu tư chứng khoán dài hạn của các NHTM. Đây là điểm bổ sung so với các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam vốn chủ yếu đo lường rủi ro tín dụng.
4. Hai đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đưa vào mô hình nghiên cứu thông qua những biến số nào?
Luận án đưa các biến đại diện cho hai giai đoạn tái cơ cấu: biến $RESTRUCT_1$ tương ứng với Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2011–2015 theo Quyết định 254/QĐ-TTg, và biến $RESTRUCT_2$ tương ứng với Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2016–2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg, cùng các biến tương tác giữa giai đoạn tái cơ cấu với các yếu tố vi mô và vĩ mô để đánh giá sự thay đổi trong cơ chế tác động đến CAR.
5. Kết quả thực nghiệm ghi nhận quy mô ngân hàng (SIZE) tác động như thế nào đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR)?
Kết quả ước lượng cho thấy quy mô ngân hàng có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đến CAR. Điều này phản ánh rằng các NHTM có quy mô tài sản lớn tại Việt Nam có xu hướng dựa vào năng lực tiếp cận thị trường vốn và mạng lưới huy động để duy trì tỷ lệ đệm vốn an toàn thấp hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hồ Hải Yến cung cấp một công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về các nhân tố vĩ mô và vi mô tác động đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của 35 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006–2020. Thông qua việc áp dụng phương pháp hồi quy System GMM hai bước, tác giả đã lượng hóa được vai trò của chi phí điều chỉnh vốn trễ, quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, dự phòng nợ xấu và các khoản đầu tư chứng khoán đối với tỷ lệ an toàn vốn dưới áp lực của hai giai đoạn tái cơ cấu hệ thống (Quyết định 254 và Quyết định 1058). Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và các nhà quản trị ngân hàng trong việc xây dựng lộ trình đáp ứng chuẩn mực Basel II và chuẩn bị triển khai Basel III tại Việt Nam.