Chương 1: Tổng quan về kinh tế xã hội TP.HCM và hoạt động của ngân hàng TMCP Chương này giới thiệu tổng quan về kinh tế xã hội TP.HCM, khái quát thực trạng kết quả hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực của ngân hàng TMCP Việt Nam tại TP.HCM Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến yếu tố động lực làm việc của nhân viên ngân hàng, nêu lại tổng quan những nghiên cứu trước có liên quan đến nghiên cứu của đề tài. Từ đó, xác định các yếu tố động lực làm việc của nhân viên ngân hàng, đồng thời đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu định tính để xác định thang đo, mô hình nghiên cứu chính thức, phương pháp xác định kích thước mẫu, phương pháp khảo sát và xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ, phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, kết quả xử lý dữ liệu khảo sát, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến động lực làm việc của nhân viên Ngân hàng TMCP Việt Nam tại Thành phố Hồ Chì Minh, đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu đã xác định.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này trình bày kết luận dựa vào kết quả nghiên cứu trong chương 4 và đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực làm việc của nhân viên Ngân hàng TMCP Việt Nam tại Thành phố Hồ Chì Minh trong thời gian tới. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ XÃ HỘI TP.HCM VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP 1. Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10' – 10 0 38 vĩ độ bắc và 106 0 22' – 106 054 ' kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm.
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km. Với vị trí địa lý thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, năng động và sáng tạo, là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng. Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người. Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm.
Khái quát về kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Kinh tế - xã hội của TP năm 2020, theo Cục Thống kê TPHCM cho biết GDP tăng 1,39% so với cùng kỳ năm 2019 mặc dù gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19, đây là nỗ lực của TP góp phần ổn định tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp xuất qua cảng TP (kể cả dầu thô) đạt 40.211,9 triệu USD, tăng 1,3%; có 5 nhóm hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 83,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó, dẫn đầu là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 17,8 tỷ USD. Nhóm hàng hóa khác đạt 6,9 tỷ USD; dệt may đạt 4,3 tỷ USD; giày dép đạt 6 2,2 tỷ USD; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 2,2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa tính chung năm 2020 tiếp tục nhập siêu 3,15 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,56 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 4,41 tỷ USD.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, UBND TP đã chỉ đạo điều hành kịp thời, nghiêm túc các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2020 đã hoàn thành và vượt 16/20 chỉ tiêu HĐND TP đề ra. Có 4/20 chỉ tiêu chưa đạt do ảnh hưởng dịch Covid-19. Cụ thể, tổng sản phẩm nội địa chỉ tăng 1,39% (chỉ tiêu 8,3%), tổng thu ngân sách đạt 88,64% dự toán; doanh nghiệp thành lập mới đạt 40.000 doanh nghiệp (chỉ tiêu 44.000 doanh nghiệp); thất nghiệp đô thị đạt 4%.HCM đã kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp ngăn đà phá sản, duy trì sản xuất đảm bảo an sinh xã hội. Thành phố đã hỗ trợ 559.362 trường hợp bị ảnh hưởng, đạt 100% kế hoạch… Công tác thu ngân sách có nhiều nỗ lực với 358.000 tỷ đồng, đạt 88,64% dự toán, đóng góp 26% vào tổng thu ngân sách nhà nước.
Hoạt động văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị đạt kết quả tích cực, đã có 893/1.092 công trình dự án hoàn thành đúng tiến độ, hoàn thành 81,8%; có 86 công trình dự án khởi công chào mừng đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 11 Công tác cải cách hành chính tiếp tục được quan tâm thông qua việc triển khai 10 giải pháp trọng tâm và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước.HCM đã ban hành 51 quyết định phê duyệt 936 quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính, triển khai 554 thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và 384 thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 4… Với thực trạng và xu hướng khả quan cho phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tạo môi trường tốt cho các Ngân hàng TMCP Việt Nam đẩy mạnh hoạt động và có kết quả tốt hơn trong tương lai. Khái quát về kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Việt Nam tại TP.HCM Khái niệm Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình ngân hàng thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) là ngân hàng thương mại, được góp vốn từ 3 cá nhân hoặc tổ chức trở lên theo hình thức cổ phần. Tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cá nhân, tổ chức góp vốn được Ngân hàng Nhà nước quy định. Kết quả hoạt động Kết quả hoạt động ngân hàng trên toàn quốc trong những năm qua nói chung và trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sẽ là cơ sở nền tảng tốt cho quá trình tăng trưởng và phát triển hoạt động ngân hàng ổn định, đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng và phát triển của giai đoạn tiếp theo.
Đặc biệt năm 2020, là năm kết thúc giai đoạn phát triển kinh tế xã hội 2016 - 2020, sự ổn định của thị trường tiền tệ tạo cơ sở củng cố vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, với những tiềm ẩn rủi ro về thị trường, về chiến tranh tiền tệ và sự mất giá của các đồng tiền mạnh, giá vàng tăng cao và đạt đỉnh của những năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu - tất cả những diễn biến đó, có tác động và gây áp lực rất lớn đến tiền đồng: tỷ giá và lãi suất. Mặc dù vậy, các chỉ số về lạm phát, về GDP, và các chỉ số kinh tế vĩ mô khác có liên quan (xuất siêu; dự trữ ngoại tệ; đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp mới thành lập…) đều đạt và vượt kế hoạch - là kết quả định lượng, hội tụ và phản ánh trực tiếp vai trò của các yếu tố từ chính sách tiền tệ. Với những kết quả hoạt động và đóng góp của ngành ngân hàng đối với sự phát triển, ổn định của nền kinh tế Việt Nam là rất lớn.
Để có được thành quả đó ngành ngân hàng đã chú trọng phát triển chất lượng nguồn nhân lực mặc dù ngân hàng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động của khủng hoảng kinh tế kéo dài và hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại đang diễn ra. Áp lực mất việc làm trở nên rõ ràng hơn đối với từng cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng, buộc mỗi người phải tự học hỏi, trau dồi thêm các kiến thức chuyên môn để có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công việc. Bên cạnh đó, cơ hội dành cho những nhân viên có kinh nghiệm, có năng lực và 8 muốn thử sức ở những môi trường tốt hơn, chuyên nghiệp và có chế độ đãi ngộ tốt hơn hay thử sức thể hiện mình ở những vị trí cao hơn tại các ngân hàng khác cũng rất rộng mở. Trong bối cảnh các ngân hàng tập trung tuyển dụng về chất lượng, tìm kiếm những ứng viên có đủ kinh nghiệm và năng lực cho vị trí quản lý và nhân viên thì làn sóng dịch chuyển nhân sự trong ngành ngân hàng sẽ vẫn tiếp tục diễn ra.
Danh sách Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2020 (Nguồn: Vietnam Report nghiên cứu) 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC, ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 2. Động lực, động lực làm việc Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân. Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Như vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ. Động lực là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Như vậy, động lực thúc đẩy là một chuỗi phản ứng nối tiếp nhau.