Chương 1 trình bày tổng quan đề tài bao gồm các nội dung: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2 là cơ sở lý thuyết, tác giả giới thiệu khái niệm về chất lượng cuộc sống và các thành tố của chất lượng cuộc sống, khái niệm sự hài lòng và hạnh phúc của người lao động. Tiếp đó, lược khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan được thực hiện làm cơ sở cho việc đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3 tác giả sẽ trình bày chi tiết phần thiết kế nghiên cứu, quá trình và phương pháp thực hiện nghiên cứu như: thu thập thông tin, xây dựng thang đo, thiết kế mẫu, kỹ thuật phân tích dữ liệu thông qua nghiên cứu định tính và định lượng.
Chương 4 trình bày nội dung kết quả nghiên cứu gồm thống kê mô tả mẫu, kiểm định thang đo, kiểm định mô hình và thảo luận kết quả. Và Chương 5, tác giả tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra các hàm ý nhằm xác định được sự tác động của sự hài lòng công việc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động tại Tp. Nêu các điểm hạn chế của nghiên cứu, đồng thời đưa ra hướng nghiên cứu tương lai. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu khái niệm chất lượng cuộc sống và các thành tố của chất lượng cuộc sống, khái niệm sự hài lòng trong công việc và hạnh phúc của người lao động.
Tiếp đó, lược khảo các nghiên cứu đi trước có liên quan được thực hiện làm cơ sở cho việc đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chất lượng cuộc sống (Quality of Life) 2.1 Định nghĩa Theo Sharma (1998), trích bởi Nguyễn Kim Thoa (2003), chất lượng cuộc sống là cảm giác được thỏa mãn với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng cuộc sống (CLCS) là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, sự viên mãn (well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. CLCS là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần.
Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao CLCS cho con người là một nỗ lực của các nhà nước (chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc tế. Thuật ngữ CLCS được sử dụng trong một loạt các ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triển quốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là cả về mặt chính trị. chỉ số tiêu chuẩn về chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm, mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe (về thể chất) và tinh thần, giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư. Hàng năm, Công ty Mercer đều công bố bảng xếp hạng CLCS của các thành phố lớn trên thế giới, dựa vào 39 tiêu chí, được chia thành 10 nhóm: (1) Nhóm về môi trường chính trị xã hội.
(2) Về môi trường kinh tế. (3) Về môi trường văn hóa xã hội. (4) Về y tế và chăm sóc sức khỏe. (5) Về giáo dục và đào tạo.
(6) Về dịch vụ công và vận chuyển. (7) Về vui chơi giải trí. (8) Về cung cấp sản phẩm tiêu dùng. (10) Về môi trường tự nhiên.
Theo The World Health Organization Quality of Life Group (WHOQOL, 1995), CLCS được định nghĩa là những cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị nơi người đó đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ. Đây là một khái niệm có phạm vi rộng bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi các yếu tố như sức khỏe thể chất, trạng thái tâm 5 lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội và đặc điểm môi trường của họ. Theo WHO Quality of Life Group (WHOQOL, 1997) đã đề xuất gồm 04 thành tố như sau: sức khỏe thể chất, yếu tố tâm lý, quan hệ xã hội và môi trường. Các thành tố này được chấp nhận rộng rãi khi xem xét CLCS ở các quốc gia, trong đó có Yao và cộng sự (2002), cho thấy một mô hình bốn yếu tố: vật lý; tâm lý; xã hội; và môi trường, để đo lường CLCS và sức khỏe nói chung.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này kế thừa quan điểm và định nghĩa của WHO, xem CLCS là một cảm nhận mang tính chủ quan của cá nhân đặt trong bối cảnh môi trường xã hội và thiên nhiên nên tác giả đã chọn nhằm xác định cảm nhận và gồm 4 thành tố vừa nêu. Các thành tố của CLCS WHO (1995) đã đưa ra tiêu chí CLCS (Quality of life-100), mức độ hạnh phúc gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số thành tố như sau: 1) Sức khỏe thể chất; 2) Yếu tố tâm lý; 3) Quan hệ xã hội; 4) Môi trường. Schuessler & Fisher, 1985; Veenhoven, 2006, khái niệm CLCS được sử dụng trong nhiều loại hình xã hội các ngành khoa học, bao gồm xã hội học, tâm lý học, kinh tế học và khoa học chính trị. Ruut Veenhoven (2006) cho rằng, tất cả khoa học xã hội đều đề cập đến 'chất lượng cuộc sống' theo một cách nào đó.
Khái niệm này không được nghiên cứu rộng rãi trong xã hội học (Ferriss, 2004; Markides, 2000; Schuessler và Fisher, 1985), mặc dù nhiều thành phần của nó. Đây có thể là một lời giải thích cho sự thiếu nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa vốn xã hội và CLCS, vô số nghiên cứu liên quan đến vốn xã hội và các khía cạnh khác nhau của CLCS. Mặc dù “mối quan tâm về cuộc sống tốt đẹp có lẽ cũng lâu đời như nền văn minh” (Schuessler & Fisher, 1985). Schuessler và Fisher (1985), đã tách ra hai phần gồm chất lượng và cuộc sống.
Chất lượng được chấp nhận rộng rãi để trở thành một cấp, nằm trong khoảng từ cao đến thấp. Cuộc sống là thường bị thu hẹp trong đời sống tinh thần, hoặc cảm giác hài lòng hoặc không hài lòng với các khía cạnh của cuộc sống hoặc cuộc sống nói chung. Vì vậy, CLCS thường được định nghĩa là thứ bậc từ cao đến thấp của cảm giác hài lòng hoặc không hài lòng với cuộc sống hoặc các khía cạnh khác nhau của nó. Lauer (1978) sử dụng một định nghĩa như vậy: “CLCS là một khái niệm rộng bao gồm những thứ như cơ hội kinh tế, cơ sở y tế, môi trường có lợi cho sức khỏe tốt, tiếp cận với các hoạt động giải trí và văn hóa”.
Nhiều lĩnh vực CLCS đã được nghiên cứu, chẳng hạn như sức khỏe, sức khỏe tâm thần, sức khỏe của học sinh- hiện hữu, chính phủ, nhà ở, gia đình và cộng đồng (Andrews 6 và Withey 1976; Michalos Năm 2003; Sirgy và Cornwell 2001; Sirgy và cộng sự. Trong các nghiên cứu gần đây, CLCS được Tổ chức Y tế Thế giới WHO (WHOQOL, 1995, trang 1404) định nghĩa là “nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của nền văn hóa và hệ thống giá trị nơi họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ”. CLCS là một phạm trù khá rộng, liên quan đến giá trị cảm nhận tích cực hay tiêu cực của mỗi cá nhân tại thời điểm khảo sát, mỗi cá nhân sẽ tự lựa chọn cho mình một cách sống chủ quan để cảm thấy hạnh phúc nhất. Tuy nhiên CLCS và hạnh phúc lại chịu chi phối bởi cộng đồng, vào những người chịu trách nhiệm xã hội và vào môi trường sống xung quanh và để tìm ra nguyên nhân, tác động của sự hài lòng trong công việc đến cuộc sống của người lao động tại Việt Nam nói chung và tại Tp.HCM nói riêng, là một trong hai thành phố lớn tại Việt Nam và tác giả chọn mô hình của WHOQOL để làm cơ sở cho nghiên cứu của mình.
Nội dung cụ thể của từng thành tố CLCS theo WHOQOL sẽ được trình bày ngay sau đây: 2. Sức khỏe thể chất (Physical Healthy) Theo WHO, “sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế". Sức khỏe là nguồn lực giá trị giúp cho con người làm chủ bản thân mình, xã hội và đời sống kinh tế, cho họ sự tự do làm việc, học tập và tham gia tích cực vào hoạt động gia đình, đời sống cộng đồng. Theo Tremblay MS và cộng sự (2010), sức khỏe thể chất là một trạng thái của sức khỏe và đặc biệt hơn là khả năng thực hiện các khía cạnh của thể thao, nghề nghiệp và các hoạt động hàng ngày.
Sự khỏe mạnh về thể chất nói chung đạt được thông qua tiêu thụ dinh dưỡng hợp lý tập thể dục vừa phải De Groot GC, Fagerström L (2011). Tình trạng sức khỏe của một người bị ảnh hưởng bởi yếu tố cá nhân người đó và yếu tố môi trường - xã hội. Trong số các yếu tố kể trên, một vài yếu tố có thể kiểm soát được ví dụ như mỗi người có thể chọn cho mình việc làm, một lối sống lành mạnh, phong cách sống, … Tuy nhiên sức khỏe thể chất có những yếu tố, chẳng hạn như yếu tố di truyền thì không thể kiểm soát được, được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ bạn là người khoẻ mạnh, cơ sở là sức lực, sự nhanh 7 nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường và nghỉ ngơi đầy đủ Malina R (2010).
Sức khỏe là cách nói chung nhất, không xác định được tính chính xác cụ thể như chiều dài, chiều rộng mà phải sử dụng cách đo lường gián tiếp thông qua nhiều bước khác nhau, McDowell (2006). Sức khỏe có hai cấp độ, thứ nhất, là cấp độ sức khỏe dân số tức là sức khỏe tổng thể của tất cả người dân, thứ hai, là sức khỏe cá nhân. Trong nghiên cứu này, mục tiêu hướng đến là sức khỏe cá nhân. Trước sự phát triển của xã hội ngày nay, quan điểm về sức khỏe thể chất cũng đã có nhiều thay đổi, McDowell (2006) sức khỏe thể chất thì sức khỏe được hiểu là “Khả năng sống sót” do đó, tỷ lệ chết là thước đo được sử dụng để đo lường sức khỏe.