Chương 1 – Giới thiệu – sẽ trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu với các nội dung lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng với ý nghĩa của nghiên cứu về mặt thực tiễn và về mặt lý thuyết. Tiếp theo đó, ở Chương 2 – Cơ sở lý thuyết, tác giả trình bày về các khái niệm Chánh niệm của nhân viên (Employee Mindfulness), Căng thẳng trong công việc (Job Stress), Công việc can thiệp vào cuộc sống (Work Interference with Life), Sự hài lòng trong công việc (Job Satisfaction) và Chất lượng cuộc sống (Quality of Life). Ngoài ra, tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan, các giả thuyết nghiên cứu và từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu.
Trong Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu, tác giả trình bày quy trình thực hiện nghiên 7 cứu, thang đo sơ bộ và chính thức của các khái niệm nghiên cứu cũng như phương pháp lấy mẫu và cỡ mẫu. Đồng thời, tác giả trình bày phương pháp phân tích dữ liệu được thực hiện. Ở Chương 4 – Kết quả nghiên cứu, tác giả trình bày kết quả phân tích dữ liệu từ một mẫu có kích thước 200 thông qua phần mềm SPSS 20 và phần mềm AMOS 20. Cụ thể, tác giả đã tiến hành các bước thống kê mô tả, đánh giá thang đo (sơ bộ và chính thức), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng SEM và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra.
Cuối cùng, tác giả thảo luận các kết quả nghiên cứu đạt được. Trong chương cuối cùng, Chương 5 – Kết luận và kiến nghị, các kết quả nghiên cứu sẽ được tóm tắt và tổng kết ở phần kết luận. Từ kết quả đó, nghiên cứu sẽ đưa ra một số đóng góp của đề tài, hàm ý quản lý. Bên cạnh đó, tác giả sẽ tổng hợp những điểm hạn chế của đề tài, đồng thời đề xuất ra hướng mở rộng cho nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm chính trong nghiên cứu này gồm Chánh niệm của nhân viên, Căng thẳng trong công việc, Sự hài lòng trong công việc, Công việc can thiệp vào cuộc sống và Chất lượng cuộc sống. Tiếp đó, các giả thuyết nghiên cứu được trình bày, từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU 2. Chánh niệm của nhân viên (Employee Mindfulness) Chánh niệm, vốn có nguồn gốc xa xưa từ Phật giáo và có thể xa lạ hoặc thậm chí là một khái niệm hơi bí ẩn đối với nhiều người phương Tây.
Chánh niệm là trạng thái tập trung hoàn toàn vào những gì đang xảy ra trong hiện tại và nhận thức được những trải nghiệm hiện tại mà theo cách chấp nhận, không theo cách phản ứng lại hay phán xét những trải nghiệm đó (Brown & Ryan, 2003). Chánh niệm được nghiên cứu rộng rãi trong các lĩnh vực tâm lý, khoa học thần kinh và y học trước khi thu hút sự chú ý của các nhà khoa học quản trị gần đây (Good & ctg. Một cách tổng quát, chánh niệm là trạng thái chú ý có ý thức vào những gì đang xảy ra ở hiện tại (Kabat-Zinn, 1994). Thực hành chánh niệm là một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả một loại thực hành thiền định cụ thể được đặc trưng bởi việc theo dõi các trải nghiệm ở hiện tại, điều này giúp cho chúng ta có thể phát triển sự tập trung của cá nhân (Lutz & ctg.
Trong các buổi thực hành chánh niệm này, những người tham gia sẽ được dạy và thực hành các nguyên tắc cơ bản của thực hành chánh niệm, tức là hướng sự chú ý vào các cảm giác thể chất hiện tại, đến các suy nghĩ và cảm xúc khi chúng đến và đi (Kabat-Zinn, 2012). Bên cạnh đó, thực hành chánh niệm đã nổi lên như một phương pháp mới để hướng dẫn các cá nhân đối phó với căng thẳng một cách hiệu quả hơn (Grossman & ctg. (2006) đã tổng hợp những khái niệm về chánh niệm từ các nhà nghiên cứu trước đó, từ đó, định nghĩa chánh niệm là một trạng thái trong đó các cá 9 nhân chú ý đến những trải nghiệm xảy ra trong thời điểm hiện tại, theo cách không phán xét hoặc cách chấp nhận. Theo Hart & ctg.
(2013), những lý thuyết về chánh niệm đã và đang phát triển theo hai trường phái với hai hướng suy nghĩ khác nhau; một là của Langer thực hiện vào năm 1989 và một là của Kabat-Zinn thực hiện năm 1994. Trong khi Langer chỉ nhấn mạnh đến nhận thức về các kích thích từ bên ngoài (external stimuli), các kích thích này vốn không cần thiết phải tham gia vào các quá trình suy nghĩ của bản thân, ngược lại, Kabat-Zinn chú ý đến cả kích thích bên trong lẫn bên ngoài (internal and external stimuli) và yêu cầu nhận thức nội tâm (introspection awareness) và siêu nhận thức (metacognitive awareness) (Langer, 1989; Kabat-Zinn, 1994). Do đó, mô hình của Kabat-Zinn trình bày chi tiết và rộng hơn, cấu trúc của Langer được coi là cấu trúc con của mô hình đa diện của Kabat- Zinn (Hart & ctg. Brown và Ryan (2003) định nghĩa chánh niệm có bản chất là một quá trình tâm lý nhận thức với bốn đặc điểm chính: sự nhận biết, sự chú ý, tập trung vào hiện tại và tiếp thu với một tâm thế không phán xét.
Nhận thức là trung tâm của ý thức, giúp một người liên tục theo dõi những gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài họ. Sự chú ý là quá trình tập trung có ý thức của một người, thể hiện sự chú tâm vào một sự vật, hiện tượng cụ thể trong rất nhiều sự vật hiện tượng khác đang diễn ra. Tập trung vào hiện tại ngụ ý rằng một cá nhân có đầu óc tập trung mạnh mẽ vào trải nghiệm từng khoảnh khắc hiện tại hơn là bị đeo bám bởi những ý nghĩ về quá khứ hoặc tương lai của họ. Cuối cùng, tâm trí tiếp thu mà không phán xét ngụ ý rằng việc xử lý thông tin trong tâm trí là khách quan theo cách vốn có của những sự việc đó (Brown & Ryan, 2003).
Như vậy, khi một người ở trạng thái chánh niệm cao, họ chỉ chú ý vào những gì đang diễn ra ở thực tế dựa vào biểu hiện của nó mà không cố gắng khái niệm hóa, phân tích, đánh giá hay phản ánh về nó (Hülsheger & ctg. Lược khảo các nghiên cứu đi trước cho thấy chánh niệm có thể được tiếp cận như một trạng thái (state) hoặc đặc điểm cá nhân (trait) (Reb & ctg. Theo Bishop & ctg. (2004), chánh niệm nên gần với trạng thái hơn là đặc điểm cá nhân 10 bởi cách tiếp cận theo đặc điểm không phản ánh được khía cạnh hoạt động tinh thần của mỗi cá nhân, tính phụ thuộc vào bối cảnh và tính có thể biến động của khái niệm này.
Ngược lại, xem chánh niệm là một trạng thái có nghĩa rằng chánh niệm là có thể rèn luyện được nếu có cách thức thực hành phù hợp. Vì vậy, nghiên cứu này xem xét chánh niệm như là một trạng thái nhằm cung cấp tri thức cho tổ chức trong việc phát triển các phương thức để thúc đẩy và tận dụng lợi ích của chánh niệm (Ding & ctg. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực tâm lý học khác nhau, bao gồm các nhà tâm lý học và quản trị học, đã cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn đến chánh niệm (Good & ctg. Những nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy rằng chánh niệm có thể đóng một vai trò tích cực đối với công việc và đồng thời, chánh niệm cũng ảnh hưởng đến khả năng phản ứng với các kích thích cảm xúc, giảm tác động tiêu cực của các tác nhân gây căng thẳng (Good & ctg.
My-Quyen & ctg. (2020) đã thực hiện một nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam đã kết luận rằng nỗ lực đồng sáng tạo đòi hỏi năng lượng và nguồn lực của khách hàng, nên nó có thể bị suy giảm theo thời gian nếu động lực của khách hàng không được nuôi dưỡng một cách thích hợp trong suốt quá trình. Để khắc phục tình trạng này, nghiên cứu cho thấy rằng chánh niệm của khách hàng như một trạng thái tâm lý nhận thức sẽ giúp ích và khắc phục điều đó. (2013) đã chỉ ra rằng chánh niệm làm giảm cảm giác kiệt sức và cải thiện sự hài lòng trong công việc thông qua hai nghiên cứu.
Nghiên cứu thứ nhất là một nghiên cứu nhật ký (diary study) kéo dài 5 ngày với 219 nhân viên. Các nhân viên với các nghề nghiệp khác nhau từ bệnh viện, trường học, trường mẫu giáo, cơ sở y tế ở Berlin và các thành phố khác nhau ở North Rhine-Westphalia, Đức đã được mời tham gia vào nghiên cứu. Kết quả thu được rằng chánh niệm có ảnh hưởng tiêu cực đến cảm giác kiệt sức và ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng trong công việc ở cả cấp độ bên trong và giữa con người với nhau. Nghiên cứu thứ hai là một nghiên cứu thực nghiệm (experimental field study), trong đó những người tham gia (cỡ mẫu là 64) được phân công ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhóm can 11 thiệp chánh niệm tự rèn luyện (self-training mindfulness intervention group) hoặc nhóm kiểm soát (control group).
Kết quả cho thấy những người tham gia vào nhóm can thiệp chánh niệm tự rèn luyện ít gặp phải cảm giác kiệt sức hơn và họ hài lòng hơn trong công việc so với những người tham gia trong nhóm kiểm soát. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của Hülsheger phản ánh mối quan hệ giữa chánh niệm và sự hài lòng trong công việc đối với nhân viên một cách toàn diện hơn với mẫu khảo sát đa dạng đối với nghề nghiệp của những người tham gia. Ngoài ra, Choi và Koh (2015) đã kết luận rằng chánh niệm có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng trong công việc, trong khi căng thẳng trong công việc và cảm giác kiệt sức có ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng trong công việc trong một nghiên cứu được thực hiện với mẫu là 330 điều dưỡng từ 2 Bệnh viện Đa khoa tại Seoul, thủ đô của Hàn Quốc. Trong lĩnh vực tâm lý và gần đây là quản trị nhân sự, vai trò của chánh niệm ngày càng được quan tâm (Shonin & ctg.
Trong công việc, các nghiên cứu trước đây cho thấy chánh niệm giúp khơi gợi trí tò mò (Baas & ctg., 2014), đưa ra những cách tiếp cận mới khi giải quyết vấn đề (Lebuda & ctg., 2016) và giúp dễ dàng đương đầu với những tình huống không chắc chắn (Ostafin & Kassman, 2012). Carmody và Baer (2007) đã chỉ ra rằng sự gia tăng chánh niệm có mối quan hệ với căng thẳng.