Chương 1: Tổng quan: gồm các nội dung lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục đề tài. - Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: gồm các các cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà, các khái niệm có liên quan, các nghiên cứu trước đây, đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu. - Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, gồm phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thiết kế thang đo,điều chỉnh thang đo cho phù hợp. - Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: trình bày các kết quả nghiên cứu gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích nhân tố EFA, mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị: chương này sẽ trình bày kết luận chung, nêu lên các hàm ý về giải pháp nhằm nâng cao sự ảnh hưởng của các yếu tố tích cực đến ý định mua nhà chung cư của giới trẻ thu nhập trung bình khá tại TP.HCM dựa trên kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các chương trước, đăc biệt là từ chương 4. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết để làm rõ các khái niệm nghiên cứu, cũng như các nghiên cứu trước có liên quan mà luận văn của tác giả kế thừa một số ý tưởng, từ đó đưa ra mô hình và các thang đo đề xuất, làm tiền đề cho bước nghiên cứu định tính và định lượng tiếp theo. Khái niệm nhà chung cư Ngược dòng lịch sử, người La Mã là những người đầu tiên xây dựng nhà ở dạng chung cư với tên gọi “insula” dành cho người nghèo và tầng lớp dưới (pleb). Mỗi insula có thể chứa tới hơn 40 người trên diện tích chỉ khoảng 400 m2, tầng cao xây dựng có khi lên đến 6 – 7 tầng.
Sau những trận đại hỏa hoạn, hoàng đé Augustus đã giới hạn chiều cao tối đa của insula còn 20,7 m và tới thời hoàng đế Nero thì chỉ còn 17,57 m. Trong thời kỳ cực thịnh của mình, số lượng chung cư insula tại Roma có thời điểm lên đến 50. Trong bộ luật nhà ở Việt Nam (Điều 70 của luật nhà ở 2005) có quy định về nhà chung cư như sau: Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân. Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư.
Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư gồm: Phần diện tích bên trong căn hộ bao gồm cả diện tích ban công, lộ gia gắn liền với căn hộ đó. Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật. Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng. Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm: Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài diện tích thuộc sở hữu riêng.
Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào. 5 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó. Phân loại nhà chung cư Theo Thông tư 31/2016/TT-BXD của Bộ Xây Dựng ban hành ngày 30/12/2016, Quy định việc phân hạng và công nhận nhà chung cư để xác định giá trị của nhà chung cư khi thực hiện quản lý hoặc giao dịch trên thị trường. Trong đó, Thông tư quy định bốn nhóm tiêu chí để phân hạng nhà chung cư bao gồm: nhóm tiêu chí về quy hoạch - kiến trúc; nhóm tiêu chí về hệ thống, thiết bị kỹ thuật; nhóm tiêu chí về dịch vụ, hạ tầng xã hội; nhóm tiêu chí về chất lượng, quản lý, vận hành.
Trên cơ sở 4 nhóm tiêu chí sẽ phân thành 03 hạng nhà chung cư theo hạng A, B, C. Các tầng lớp kinh tế xã hội: Định nghĩa đầu tiên về tầng lớp kinh tế-xã hội là của các nhà xã hội học. Theo nhà xã hội học Milton Gordon (1963: p.3): “Tầng lớp xã hội là sự phân lớp dân số một cách ngang hàng thông qua ý nghĩa của các nhân tố có liên quan đến đời sống kinh tế của xã hội như: tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, mức chi tiêu hàng tháng, hoàn cảnh gia đình.” Theo Philip Kolter và các đồng sự (1996: p.206) định nghĩa các tầng lớp kinh tế-xã hội theo khuynh hướng các nhà marketing: “Tầng lớp kinh tế-xã hội thì tương đối đồng nhất và chịu sự chi phối trong một xã hội được sắp xếp một cách thứ tự và các thành phần của xã hội này giống nhau về các giá trị tương tự, sở thích và hành vi. Cơ sở lý thuyết để phân chia các tầng lớp kinh tế - xã hội Mỗi một tầng lớp kinh tế-xã hội là sự pha trộn của các dấu hiệu vầ tầng lớp kinh tế-xã hội được chỉ rõ.
Có hai bộ dấu hiệu nhận biết. Một là từ cơ sở dữ liệu phỏng vấn trực tiếp và một từ dữ liệu quan sát. Có 30 dấu hiệu nhận biết từ phỏng vấn trực tiếp 1. Nghề chính của hộ gia đình 2.
Trình độ học vấn 3. Thu nhập hàng tháng 4. Quyền sở hữu nhà ở hoặc cho thuê 5. Tiền thuê hoặc cho thuê nhà hàng tháng 6.
Sự giáo dục của người vợ 7. Số nhân khẩu 8. Đảm trách việc nấu ăn 9. Toilet tiện nghi 15.
Máy đánh bóng sàn 18. Điện thoại cầm tay 27. Điện thoại bàn 13 dấu hiệu định từ việc quan sát: 1. Nhà được xây bằng vật liệu rẻ tiền hay đắt tiền 2.
Kiến trúc cố định hay tạm bợ 3. Được xây dựng kiên cố hay sơ sài 4. Nhà có tô hay không tô 5. Không cần sữa sang hay dột nát 6.
Vùng lân cận sang trong hay khu ổ chuột 7. Nội thất đắt tiền hay sơ sài 8. Bãi cỏ hoặc khu vườn chơi xung quanh 9. Máy giặt Ngoài ra còn có cách phân chia khác, theo tiêu chuẩn của Neilsen (2016) thì sự phân chia các tầng lớp kinh tế xã hội theo thang SEC như sau: 7 Bảng 2.
Thang phân chia các tầng lớp kinh tế xã hội SEC Tầng lớp Thu nhập cá nhân (vnđ/tháng) F 0 – 1. Độ tuổi Theo học thuyết về sự phát triển con người của Erik Erikson phân chia cuộc sống con người theo 8 giai đoạn tâm lý căn bản, và nhấn mạnh rằng người ta chỉ có thể phát triển đầy đủ ở một giai đoạn nào đó về phương diện tình cảm, tâm lý, xã hội, nếu giai đoạn trước đó không bị gián đoạn: - Tuổi 0-1: Trong năm đầu, em bé cần tạo được và phát triển mối liên hệ với thế giới chung quanh em mới bước vào, nhất là cha mẹ và những người trong gia đình - đặc biệt là người mẹ. Tình yêu và mơn trớn của cha mẹ rất cần thiết để giúp em có được niềm yêu mến và tin tưởng với tha nhân sau này. Nếu không được âu yếm, em bé sẽ trở nên thiếu tin tưởng nơi chính mình cũng như với người khác sau này nữa.
- Tuổi 2-3: Ở tuổi này, em bé bắt đầu khám phá ra những hoàn cảnh chung quanh xem chúng liên quan với mình như thế nào. Em bắt đầu "thử xem" mình có thể làm được những gì. Tuy nhiên vì còn quá nhỏ và chưa có kinh nghiệm để "thành công". Cha mẹ cần ủng hộ và khuyến khích em hơn là làm cho em sợ.
Ngoài ra, cha mẹ cũng không nên quá bảo vệ em đến nỗi không dám để cho em được tự do khám phá và hành động một mình. Trong thời gian này, một là em có được tinh thần tự tin và độc lập, hoặc em sẽ trở thành con người liều lĩnh hoặc tự ti mặc cảm. 8 - Tuổi 3-5: Bé bắt đầu quan sát người khác để học hỏi và bắt chước, em cũng tìm cách hành động theo cách thế riêng của mình. Em bắt đầu tập đương đầu với những khó khăn do ngoại cảnh, tập tranh đấu và thi đua với bạn bè.
Cha mẹ và người lớn cần phải để cho em có cơ hội thắc mắc và được hướng dẫn hơn là khiển trách hoặc coi thường. Hơn nữa, đôi khi em cũng cần có kinh nghiệm thất bại để học hỏi thêm, nhưng quá nhiều thất bại có thể biến em thành con người mất tự tin. Nếu làm gì cũng bị la, hay hơi sai lỗi một tí là bị khiển trách, em sẽ dễ bị mặc cảm tội lỗi, trở thành đóng kín, dần dần đi đến bi quan yếm thế và không dám tự ra tay làm lấy điều gì. - Tuổi 6-12 (Thiếu niên):Ở tuổi này em bắt đầu một mình bước vào xã hội với các cuộc giao tiếp và ganh đua với bạn bè tại trường học và các nơi khác.
Em tập phát triển các tài năng và năng khiếu riêng nhờ các sinh hoạt chung và tiếp xúc. Nếu giai đoạn này thành công, em sẽ có nhiều nghị lực và kinh nghiệm để đương đầu với những khó khăn và khủng hoảng sau này trong cuộc đời. Nếu không phát triển trong giai đoạn này, trong tương lai, em sẽ dễ cảm thấy mình thua kém bạn bè, nhát đảm khi gặp những thử thách khó khăn. - Tuổi 13 – 19 (Thanh Thiếu niên): Khi hoạt động với bạn bè trong một nhóm, người trẻ này chập chững làm người lớn, khám phá ra vai trò và địa vị mình trong mối tương quan với tha nhân và xã hội.
Nếu học hỏi và có thêm những cảm nghiệm tích cực về bản thân, người trẻ bắt đầu hãnh diện và tự trọng, đồng thời biết tôn trọng người khác. Nếu không được như vậy, người trẻ sẽ mất cảm thức về giá trị và địa vị chính mình trong mối tương quan với xã hội.