CHƯƠNG 1: Từ những vấn đề phát sinh trong quá trình cho vay mua bất động sản liên kết tại ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu và các mô hình đo lường rủi ro tín dụng trong quá trình trước khi cấp tín dụng và sau khi cho vay nhằm hạn chế tối đa các rủi ro tín dụng phát 123doc 4 sinh trong hoạt động cho vay mua bất động sản liên kết tại ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực lẫn tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Rủi ro có ba yếu tố tác động là: xác xuất xảy ra, khả năng ảnh hưởng đến đối tượng, thời lượng ảnh hưởng.
(Theo trường phái hiện đại) Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn hoặc không thanh toán đủ gốc lãi. Bên cạnh đó, theo thông tư số 40/2018/TT-NHNN thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro tín dụng và rủi ro tín dụng đối tác, trong đó rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng hoặc thỏa thuận với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch tự doanh, giao dịch repo và giao dịch reverse repo, giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro, giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính để phục vụ nhu cầu của khách hàng Theo Quyết định 02/2013/TT – NHNN của Thống đốc NHNN thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực 123doc 5 hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo tác giả Nguyễn Thị Sâm tại Luận văn thạc sĩ (2005) thì rủi ro tín dụng phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Timothy W.Koch (2006)) Bên cạnh đó, theo Anthony Sauders (2007) định nghĩa về rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàn khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về số lượng và thời hạn.
Hơn nữa, theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) khái niệm về rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng , tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc thậm chí là không chi trả toàn bộ gốc và lãi. Điều này gây ra sự mất cân đối với dòng chu chuyển tiền tệ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể được hiểu là việc không mong đợi trong quá trình cấp tín dụng đối mà tại đây khách hàng không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán một phần hay toàn bộ cho ngân hàng trong hợp đồng vì các lý do chủ quan hoặc khách quan gây ra khả năng thanh toán của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích và đo lường các loại rủi ro từ đó chọn lọc ra các phương pháp, biện pháp quản lý hoạt động ngân hàng nhằm đẩy lùi và hạn chế tối đa các rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.2 Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Trong đó, rủi ro danh mục được chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. 123doc 6 Rủi ro nội tại là rủi ro phát sinh từ sự riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay, ngân hàng tài trợ vốn cũng như là ngành kinh tế tác động Rủi ro tập trung là rủi ro phát sinh đối với các mức cấp tín dụng dành cho một nhóm khách hàng; một số ngành kinh tế hoặc một số sản phẩm vay. Rủi ro này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thẩm định, phân tích thẩm định; các tiêu chí đảm bảo và quản trị hoạt động cho vay Rủi ro giao dịch phát sinh do sự hạn chế trong quá trình thẩm định và xét duyệt tín dụng cho một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng. Rủi ro tín dụng hình thành xoay quanh việc lựa chọn thẩm định, phân tích phương án vay vốn; các tiêu chí, điều khoản trong hợp đồng, các loại tài sản có giá để đảm bảo và việc quản lý khoản vay thông qua việc kiểm tra sau cho vay cũng như sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng để kiểm soát.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 2.1 Nguyên nhân từ khách hàng Khách hàng đến ngân hàng đều có phương án sử dụng vốn nhất định.
Căn cứ việc này, cán bộ tín dụng sẽ xem xét tính hiệu quả của dự án cũng như là cấp tín dụng như thế nào với khách hàng. Tuy nhiên, việc sử dụng sai nguồn vốn của khách hàng sau khi nhận phê duyệt tín dụng từ ngân hàng có thể làm cho khách hàng không đảm bảo được nghĩa vụ trả nợ. Bên cạnh đó, việc kinh tế khó khăn chung trong những năm gần đây cũng làm cho việc kinh doanh trở nên ế ẩm, kém hiệu quả. Việc quản lý yếu kém cũng như không kịp thời thích nghi nền kinh tế gây ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng và ngân hàng.
Việc ghi chép sổ sách, chứng từ của khách hàng chủ quan, kém thực tế nhằm mục đích che dấu việc kinh doanh thực tế và sử dụng vốn ngân hàng với mục đích khác. Cuối cùng, việc thiếu thiện chí trong quá trình phối hợp trả nợ là nguyên nhân phổ biến từ khách hàng.2 Nguyên nhân từ ngân hàng 123doc 7 Bên cạnh việc phát sinh rủi ro tín dụng từ khách hàng thì về phía ngân hàng cũng là nơi tạo ra các yếu tố dẫn đến rủi ro tín dụng. Đầu tiên, việc cán bộ thiếu đạo đức, trình độ nghiệp vụ kém. Là bộ phận trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, có thể cùng khách hàng tạo dựng bộ hồ sơ phù hợp để vay vốn.
Nghiêm trọng hơn khi cán bộ không đủ trình độ thẩm định lỏng lẽo hồ sơ để khách hàng lợi dụng điểm yếu hòng mục đích chiếm dụng vốn dễ dàng. Tiếp theo, việc thờ ơ trong vấn đề kiểm tra sau cho vay. Các cán bộ tín dụng đa phần đều dồn lực vào công tác thẩm định trước khi cho vay mà lơ là trong việc kiểm tra mục đích sử dụng vốn, kiểm tra hoạt động kinh doanh, đối chiếu dư nợ. Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo, thiếu kịp thời làm cho nghiệp vụ tín dụng không được sửa chữa, điều chỉnh khắc phục.
Hơn nữa, nguồn thông tin từ phía ngân hàng không đầy đủ và xác thực dẫn đến việc đưa ra quyết định cấp tín dụng có nhiều rủi ro. Cuối cùng, việc tăng trưởng nóng trong những năm gần đây của ngành ngân hàng làm mở rộng hoạt động tín dụng một mức khá cao. Điều này đi kèm với hàng loạt rủi ro phát sinh khi việc lựa chọn khách hàng quá dễ dàng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng cũng như cấp quản lý tín dụng bị giảm sút và nghiêm trọng hơn việc tuân thủ quy trình tín dụng bị buông lỏng 2.3 Nguyên nhân vĩ mô Thị trường kinh tế thế giới chuyển biến rất nhanh và khó dự đoán do quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế. Hơn nữa, các cuộc chiến thương mại giữa các cường quốc kinh tế cũng đang chớm nở làm thị trường biến động liên tục.
Điều này làm cho việc kinh doanh trở nên khó khăn, việc thẩm định dự án của khách hàng ngày càng khó lường có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực cho các khoản cấp tín dụng. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai làm mất mùa, trì trệ quá trình sản xuất, hư hỏng thành phẩm làm cho khách hàng không đủ thu nhập thanh toán khoản vay cho ngân hàng. Cuối cùng, môi trường pháp lý chưa đầy đủ, chồng chéo cũng tạo điều kiện cho 123doc 8 khách hàng có lỗ hỏng pháp lý để lợi dụng hòng chiếm đoạt tiền từ ngân hàng.4 Tác động của rủi ro tín dụng 2.1 Đối với ngân hàng Rủi ro tín dụng trực tiếp làm giảm thu nhập của ngân hàng. Việc phát sinh quá nhiều khoản vay không thu được lãi hoặc thậm chí là mất vốn trong khi việc huy động vốn cũng như huy động nguồn lực và chi phí quản lý ngày càng phình to.
Bên cạnh đó, việc xử lý khởi kiện cũng như thu hồi tài sản đảm bảo luôn gặp khó khăn và cồng kềnh pháp lý làm tăng chi phí cho ngân hàng. Hơn nữa, rủi ro tín dụng phát sinh làm mất cân bằng tính thanh khoản của ngân hàng. Từ đó, ngân hàng phải đi huy động từ thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao thay vì mất thời gian rất lâu huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nhất là ngân hàng sẽ phá sản vì hàng loạt khách hàng sẽ rút tiền.
Cuối cùng, việc này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và năng lực cạnh tranh cho chính ngân hàng. Một viên cảnh tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ quá cao làm ảnh hưởng đến tâm lý của các đối tác, cổ đông khi đã đặt kỳ vọng vào ngân hàng.2 Đối với nền kinh tế Hoạt động ngành ngân hàng ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế. Ngành ngân hàng cung ứng vốn cho đa số các ngành nghề và nhiều thành phần khác nhau. Nếu ngân hàng bị phá sản nó không chỉ ảnh hưởng đến các ngành nghề trong nền kinh tế mà còn tất cả các thành phần trong xã hội.