CHƯƠNG I Nội dung của chương này đã tập trung làm rõ lý do chọn đề tài, đồng thời tóm lược phương pháp nghiên cứu về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá văn phòng cho thuê. Từ đó, luận văn xác định mục tiêu nghiên cứu và được cụ thể bằng ba câu hỏi nghiên cứu. Trong đó, nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu là nguồn số liệu sơ cấp và nguồn số liệu thứ cấp. Trong chương tác giả đã đưa ra ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và kết cấu chính của luận văn.
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng cở sở lý thuyết về phân tích các yếu tố tác động đến giá văn phòng cho thuê tại khu vực trung tâm TP. HCM điều này sẽ trình bày trong chương II. 123doc 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN Nội dung chương II nhằm khái quát về lý luận của các yếu tố tác động đến giá văn phòng cho thuê, các nghiên cứu và mô hình thực nghiệm trong nước và nước ngoài, đồng thời tổng hợp các yếu tố tác động đến giá văn phòng cho thuê.1 Các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu 2.1 Khái niệm và phân loại văn phòng cho thuê 2.1 Văn phòng cho thuê Theo từ điển Wikipedia khái niệm về văn phòng cho thuê là: là khu vực làm việc cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu thuê để hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, vị trí của văn phòng thường tọa lạc tại khu vực trung tâm… Có nhiều quan điểm khác nhau về văn phòng cho thuê, nhưng nội dung chủ đạo được khái quát là: Văn phòng cho thuê là công trình xây dựng có mái, có tường bao quanh, cửa ra vào được cho thuê bởi một hay nhiều cá nhân hoặc tổ chức nhất định để làm nơi giao dịch, sinh hoạt văn hoá - xã hội hoặc cất giữ vật chất.2 Phân loại văn phòng cho thuê Mỗi quốc gia sẽ có tiêu chuẩn phân loại văn phòng cho thuê khác nhau. Như ở Australia chú trọng đến vấn đề môi trường.
Nhật chú trọng tới các chỉ số an toàn (động đất, núi lửa,…). Hiện nay ở Việt Nam chưa có một tiêu chuản xếp hạng văn phòng chính thống. Phân loại văn phòng người ta thường áp dụng dựa trên nhiều yếu tố như mức thuê, vị trí của văn phòng, tuổi thọ của tòa nhà đặt văn phòng, trang thiết bị văn phòng,… Dựa theo những tiêu chí này thì có thể phân ra làm 3 loại văn phòng như sau: Văn phòng loại A - Tổng diện tích từ 20.000m2 trở lên, độ cao của trần là 2,65m, ốp đá. - Diện tích sàn mỗi văn phòng hợp lý từ 1.
123doc 6 - Vị trí nằm ở khu vực trung tâm kinh doanh, có tầm nhìn đẹp, dễ tiếp cận, tiền sảnh sang trọng trang bị điều hòa, có tầng hầm đỗ xe, luôn luôn được bảo trì tốt. - Dịch vụ công nghệ: + Hệ thống lò sưởi, thông gió và điều hòa: tổng diện tích xấp xỉ 70m2 với 25 watt/m2 cho thiết bị, có hệ thống làm lạnh bổ sung, ngưng hơi nước tự động. + Thang máy thời gian chờ không quá 25 giây, công suất lớn hơn 15%, thang máy có chất lượng cao và có tiếng ồn thấp. Ít nhất có một thang riêng vận chuyển hàng hóa.
+ Điện tối thiểu 25 watt/m2, hệ thống cơ điện có chất lượng tốt nhất và luôn luôn được bảo trì. + Ánh sáng có chất lượng tốt nhất, từ 400 lu-xơ trở lên. + Hệ thống thông minh của tòa nhà: hệ thống tự động chất lượng cao, có hệ thống quản lý điện và năng lượng dự phòng, phòng điều khiển. + Năng lượng dự phòng: đáp ứng 100% cho các dịch vụ thiết yếu và hệ thống thông gió, 50% cho thắp sáng và thang máy.
- Internet kết nối băng thông rộng và có nhiều băng thông rộng cho khách thuê lưa chọn. - Kiến trúc - đơn vị xây dựng - đơn vị phát triển - đơn vị quản lý: được quốc tế hoặc Viện nghiên cứu địa chất công nhận. Văn phòng hạng B - Vị trí có tầm nhìn đẹp, dễ tiếp cận, tiền sảnh sang trọng trang bị điều hòa, có tầng hầm đỗ xe, đường vào tốt. - Kiến trúc - đơn vị xây dựng - đơn vị phát triển - đơn vị quản lý: được quốc tế hoặc địa phương công nhận.
- Thiết kế đẹp mắt; độ cao của trần là 2,5 m; diện tích trung bình 500 - 1000m2/phòng; chịu lực 300kg/m2; hành lang rộng tối thiểu 1,8m. thiết kế đẹp và thuận tiện, mức độ ánh sáng 400 lu-xơ. - Tiền sảnh, phòng ngoài thiết kế thuận tiện, đồng nhất về ký hiệu, độ rộng gần 3m. Nội thất văn phòng lắp đặt theo quy định cụ thể, bày trí phù hợp để tận 123doc 7 dụng tối đa diện tích làm việc; cửa ra vào khi mở ra rộng tối thiểu 900mm; nền nhà - tầng hầm được láng kim loại; tường thạch cao; đường dây điện thoại IDD; Internet băng thông rộng; WC theo tiêu chuẩn 4 sao.
- Thang máy có sức chứa 12 - 16 người; tốc độ nhanh, thời gian chờ ngắn, tối thiếu 1 thang máy/4 tầng, là sản phẩm nổi tiếng. Văn phòng hạng C Văn phòng hạng C có tiêu chuẩn thấp hơn hạng A và B. Kiến trúc - đơn vị xây dựng - đơn vị phát triển - đơn vị quản lý: được địa phương công nhận. Việc quản lý thì do công ty trong nước thực hiện.
Văn phòng hạng C có thể được chuyển đổi mục đích từ các loại hình khác như nhà để ở, kinh doanh,… 2.2 Khái niệm về giá cho thuê văn phòng Theo từ điển Wikipedia: Giá cả là số tiền thỏa thuận giữa người mua và người bán với nhau nhằm trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong điều kiện giao dịch bình thường. Do đó chúng ta có thể định nghĩa giá cho thuê văn phòng là số tiền được thỏa thuận giữa người đi thuê và người cho thuê để có được quyền chiếm hữu, sử dụng BĐS văn phòng. Người cho thuê nhận được một khoản thu nhập từ việc cho thuê BĐS của mình.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết Vị thế, Chất lượng Lý thuyết Vị thế, Chất lượng được phát triển bởi Hoàng Hữu Phê và Patrick Wakely và công bố vào năm 2000 tại Vương quốc Anh trên tạp chí Đô thị học (Urban Studies) dưới tiêu đề “Vị thế, chất lượng và sự lựa chọn khác: Tiến tới một lý thuyết mới về vị trí dân cư đô thị”. Bản dịch tiếng Việt của lý thuyết này được công bố rộng rãi trên các tạp chí Xã hội học và Kiến trúc tại Việt Nam trong những năm gần đây.
123doc 8 Nội dung chính của lý thuyết mô tả động học dân cư đô thị, tức sự lựa chọn về nơi ở của người dân trong không gian đô thị, có nội dung khác biệt so với các lý thuyết được đa số chấp nhận hiện nay phát triển bởi William Alonso (1964) dựa vào ý tưởng của Von Thunen (1826) lý giải động học dân cư đô thị theo sự lựa chọn giữa chi phí đi lại và chi phí nhà ở. Theo hướng của lý thuyết Vị thế, Chất lượng là sự thay đổi trong các khu dân cư đô thị có thể được quan niệm như bao gồm một chuyển dịch đồng thời dọc theo hai chiều: vị thế nơi ở (VT) và chất lượng nhà ở (CL). Vị thế nơi ở là một hình thức đo sự mong muốn về mặt xã hội gắn với nhà ở tại một địa điểm xác định. Nó có thể đại diện cho của cải, văn hóa, giáo dục, chất lượng môi trường,…, phụ thuộc vào hệ thống giá trị hiện thời của một xã hội nhất định.
Việc định lượng vị thế có thể được tiến hành, hoặc thông qua việc ước tính một biến số đại diện (proxy), bằng một quá trình xếp hạng (thí dụ, với việc sử dụng các nhóm trọng điểm (focus groups) hoặc bằng cách ước tính các giá cả “suy ra” (implicit price) của các thuộc tính liên quan tới vị thế, thông qua nhiều kỹ thuật hồi quy khác nhau, như hedonic,… Chất lượng nhà ở bao gồm các đặc tính vật lý đo đếm được, như diện tích sàn, số tầng cao, số lượng phòng,… Lý thuyết vị thế, chất lượng có các hệ quả ứng dụng trong nghiên cứu và phát triển thị trường BĐS cụ thể như sau: Khái niệm “vị thế” thay thế cho khái niệm “vị trí” BĐS, “vị thế” là nội dung văn hóa - xã hội và kinh tế ẩn chứa đằng sau khái niệm “vị trí” làm cho “vị trí” có một vai trò quyết định trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư phát triển BĐS. Quy luật “đường ngưỡng”, phản ánh mối quan hệ giữa chất lượng và vị thế, là một cách thức hành xử mới hình thành từ các hành vi lựa chọn của các cá nhân trong xã hội, là hành vi hợp trội (emergent behavior) của các hệ thống kinh tế - xã hội. Theo lẽ đó, các hành vi theo “đường ngưỡng” là duy lý phân biệt với các hành vi phi duy lý mang tính “cường điệu thái quá mức chất lượng công trình”. Cơ sở 123doc 9 hình thành và phát triển thị trường BĐS là các hành vi lựa chọn vị thế và chất lượng BĐS được xác định có tính đến các yếu tố duy lý và phi duy lý.
Lý thuyết này đã đưa ra một cách định giá BĐS mới thông qua một hàm hồi quy dựa vào các biến số cơ bản, trong đó có những biến định lượng đại diện cho thuộc tính chất lượng và một số biến định tính đại diện cho thuộc tính vị thế.2 Lý thuyết định giá nhân tố thụ hưởng - Mô hình hedonic Theo Goodman (1998), thuật ngữ hedonic được sử dụng để mô tả “tỷ trọng về tầm quan trọng tương đối của các thành phần khác nhau so với các thành phần khác nhằm tạo ra chỉ số về hiệu dụng và sự mong muốn”. Rosen (1974) định nghĩa giá thụ hưởng là “giá ẩn của các thuộc tính và các tác nhân kinh tế sẽ biết được mức giá đó khi quan sát giá của các sản phẩm dị biệt và các đặc điểm cụ thể đi kèm với chúng”. Rosen (1974), đã đặt ra nền tảng lý thuyết cho việc xác định giá mua, hoặc giá ẩn của các thuộc tính của một hàng hoá cho nhiều đối tượng người tiêu dùng khác nhau. Giá mua được xác định là số tiền tối đa mà một người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một hàng hoá với điều kiện là họ duy trì được một mức độ thỏa mãn hoặc hài lòng nhất định.
Lý thuyết về các hàm đo lường độ thỏa dụng sẽ tạo cơ sở để phân tích các hàng hóa đặc biệt chẳng hạn như các đơn vị nhà ở mà các thuộc tính riêng lẻ của chúng không có mức giá rõ ràng.