Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 5 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm căn bản 1.1 Bảo hiểm và bảo hiểm y tế 2.1 Khái niệm bảo hiểm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ. Định nghĩa 1: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Định nghĩa 2: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được. Các định nghĩa trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về xã hội - định nghĩa 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp - định nghĩa 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính - định nghĩa 3). Một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.2 Khái niệm về bảo hiểm y tế Theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,… nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau.2 Ý định và ý định mua 2.1 Khái niệm về ý định Được dịch từ tiếng Anh ý định là một trạng thái tinh thần thể hiện cam kết thực hiện một hành động hoặc hành động trong tương lai. Ý định liên quan đến các hoạt động tinh thần như lập kế hoạch và suy nghĩ trước. Wikipedia (tiếng Anh) Trong tiếng việt là danh từ ý định là sự rắp tâm làm việc gì.2 Khái niệm ý định mua Ý định mua đề cập sự sẵn sàng mua sản phẩm của khách hàng, gia tăng và việc tiếp tục sử dụng sản phẩm đó, thể hiện động lực của người tiêu dùng trong việc nỗ lực thực hiện hành vi.
Engel và cộng sự (1993) chỉ ra rằng người tiêu dùng luôn hình thành ý định mua trước các hành động mua cụ thể và thường quyết định mua các sản phẩm mà họ đã có các cảm nhận, nhận thức tích cực từ trước, Như vậy, cảm nhận về sản phẩm giúp khách hàng có được sự ưu tiên trong các phương án lựa chọn mua của mình. Trong thực tế, hành vi mua 7 còn bị tác động bởi các yếu tố tình huống tại điểm bán hàng và việc nghiên cứu tác động này gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy phần lớn các nhà nghiên cứu đánh giá hành vi mua thông qua ý định mua. Young và cộng sự (1998), Newberry và cộng sự (2003), Chandon và cộng sự (2005) nghiên cứu ý định mua của người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau chịu tác động bởi các nhóm nhân tố khác nhau và phụ thuộc vào loại sản phẩm nghiên cứu.3 Hộ gia đình ngoại ô thành phố Quảng Ngãi Hộ gia đình ngoại ô TP Quảng Ngãi là các hộ gia đình sống ở các khu vực ven đô, xung quanh TP Quảng Ngãi. Phía nam giáp huyện Tư Nghĩa 2.
Phía đông nam giáp huyện Mộ Đức 3. Phía bắc giáp huyện Bình Sơn 4. Phía tây và tây bắc giáp huyện Sơn Tịnh 5. Phía đông giáp biển Đông.2 Một số lý thuyết có liên quan đến ý định hành vi 2.1 Lý thuyết TRA Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian.
Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng [1]. 8 Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.
Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này thích hay không thích họ mua. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng.2 Lý thuyết TPB 9 Các niềm tin và sự tự đánh giá Thái độ Niềm tin quy chuẩn và động Chuẩn chủ Ý định hành Hành vi cơ thực hiện quan vi Niềm tin kiểm Nhận thức soát và sự dễ kiểm soát hành dàng cảm nhận vi Hình 2.1 Mô hình hành vi dự định (TPB) (Nguồn: Ajzen, 1991) Một số nhà nghiên cứu đã xem xét tác động trực tiếp của thái độ, ảnh hưởng xã hội, (Scholderer & Grunert, 2001; Olsen, 2001), kiểm soát hành vi cảm nhận (Verbeke & Vackier, 2005), các cảm nhận hành vi xã hội (Astrom & Rise, 2001; Berg, Jonsson & Conner, 2000; Louis et al, 2007) trong lĩnh vực hành vi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ, nhưng vì chưa có nghiên cứu nào mà chúng ta biết đã kiểm định các cảm nhận hành vi xã hội trong việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ nói chung, và trong điều kiện Việt Nam nói riêng, vì vậy nghiên cứu này thừa nhận các kết quả của nghiên cứu trước tương ứng với các yếu tố của lý thuyết TPB mở rộng.3 Một số nghiên cứu trước Hiện có khá nhiều đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, các sản phẩm, dịch vụ… trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tại tỉnh Quảng Ngãi chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua BHYT HGĐ của những 10 người dân.
Với điều kiện của tác giả, những đề tài và bài viết sau đây đã được tiếp cận ở cả góc độ trong và ngoài nước: 2.1 Nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Labuan, (2012). Đây là một nghiên cứu về sự tham gia của bảo hiểm hồi giáo. Tác giả đã dùng lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự định (TPB) để giải thích các biến số ảnh hưởng đến mức độ quan tâm tham gia bảo hiểm hồi giáo. Trong đó nhấn mạnh các yếu tố như thái độ, cảm nhận hành vi và hiểu biết về bảo hiểm có liên quan đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm hồi giáo.
Nghiên cứu của Lin Liyue; Zhu Yu (2006), “Multi-level analysis on the determinants of social insurance participation of China’s floating population: a case study of six cities”. Nghiên cứu giúp tác giả định hướng rõ khi nghiên cứu gợi ý tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT là “nhận thức về tính ASXH khi tham gia BHYT”, “sự hiểu biết về BHYT”. Min-Sun Horng và Yung-Wang Chang (2007) đã nghiên cứu nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ tại Đài Loan và đã tìm ra nhân tố “thu nhập” có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH, BHYT. Nghiên cứu của Frank Charles Maduga (2015), “Public communication and social security delivery in Tanzania”.
Nghiên cứu này xem xét liệu có sự thay đổi thái độ từ an sinh xã hội truyền thống sang hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại hay không. Nghiên cứu cũng khám phá các loại hình truyền thông đang diễn ra và gợi ý những cách thức mà việc truyền thông có thể được cải thiện để có kết quả tốt hơn. Hơn nữa, nghiên cứu đánh giá nhận thức và mức độ hiểu biết của công chúng về các chương trình an sinh xã hội hiện đại. Nó đánh giá sự chấp nhận và sự sẵn lòng của mọi người để tìm hiểu về các kế hoạch và khám phá các yếu tố cản trở sự tham gia bảo hiểm xã hội.
Nghiên cứu của Maranga Sebastien Nguluwe (2016), “Extending access to social security to the informal sector in South Africa: Challenges and prospects”. Nghiên cứu 11 cho thấy hiện nay tại Nam Phi hình thành hai khía cạnh riêng biệt của hệ thống an sinh xã hội: đó là khái niệm bảo hiểm (BHXH) và khái niệm tái phân phối (trợ cấp xã hội). Câu hỏi đặt ra cho Chính phủ Nam Phi là liệu nên tập trung vào BHXH hay trợ cấp xã hội. Có rất nhiều vấn đề xảy ra khi xây dựng hai hệ thống này.2 Nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu được tham khảo trước khi thực hiện đề tài này gồm có: - Nghiên cứu của Lưu Thị Thu Thủy, (2011).
Tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Điều tra khảo sát nhu cầu, khả năng của đối tượng tham gia BHXH, BHYT tự nguyện khu vực phi chính thức”. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn những người dân được phỏng vấn đều mong muốn tham gia BHXH, BHYT tự nguyện nhưng vì phải đưa ra lựa chọn trong tình hình tài chính có hạn.