phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài gồm 05 chƣơng nhƣ sau: Nội dung chính của Chƣơng 1 nói về tính cấp thiết để thực hiện đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu cũng nhƣ sự đóng góp của đề tài. Nội dung chính của Chƣơng 2 bao gồm giới thiệu các khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan và giả thuyết cho nghiên cứu 14 Nội dung chính của Chƣơng 3 nói về mô hình, giả thuyết nghiên cứu, mã hóa thang đo, dữ liệu, phƣơng pháp và quy trình nghiên cứu Nội dung chính của Chƣơng 4 dùng để trình bày kết quả nghiên cứu để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra đó là xác định mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố đến việc quyết định sử dụng TTD trong giao dịch TMĐT tại TP. Nội dung chính của Chƣơng 5 bao gồm rút ra kết luận cho nghiên cứu, đồng thời đƣa ra một vài kiến nghị, hạn chế để lập luận cho hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 15 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Để bắt kịp nhịp độ của thế giới, Việt Nam đang mở rộng và tập trung triển khai các sản phẩm mới về thẻ thanh toán.
TTD xuất hiện tại Việt Nam đã từ lâu nhƣng đến khoảng năm 2010 mới thực sự đƣợc nhiều ngƣời tin dùng và đã có sự phát triển vƣợt trội trong gần đây. Qua một vài nét tiêu biểu về thị trƣờng TTD, nội dung chính của Chƣơng 1 nói về những ý chính của công trình bao gồm: Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu; Phƣơng pháp và dữ liệu nghiên cứu,…., từ đó có thể nắm bắt rõ hơn về nhu cầu của ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ ý nghĩa của đề tài. Bên cạnh đó Chƣơng 1 giúp hình dung tổng quan hơn về cấu trúc và những nội dung cụ thể trong công trình. Tiếp theo trong Chƣơng 2, cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trƣớc sẽ đƣợc tác giả phân tích cụ thể hơn.
16 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Khái quát về thẻ tín dụng 2. Khái niệm về thẻ tín dụng Mitchell và Mickle (1999) định nghĩa về thẻ tín dụng là một nguồn tiền cho phép chủ thẻ có thể chi tiêu trƣớc và thanh toán sau. Brito và Hartley (1995) cho rằng TTD có thể hỗ trợ ngƣời dùng giao dịch mọi lúc mọi nơi bởi nó có chức năng cung cấp nguồn tài chính linh hoạt, đây là loại thẻ có thời gian ân hạn dài nên khách hàng có thể thanh toán số dƣ vào cuối tháng.
Kalisa Alfred và cộng sự (2016) đã định nghĩa về thẻ tín dụng là loại thẻ đƣợc phát hành bởi một tổ chức tài chính, là một trong số những hình thức cung cấp nguồn vốn ngắn hạn cho khách hàng thanh toán, chi tiêu. Theo Khoản 5, Điều 2, Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 định nghĩa về thẻ tín dụng nhƣ sau: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đƣợc cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Cụ thể, TTD đƣợc hiểu nhƣ là một cách thức khác trong chức năng thanh toán, đƣợc chấp nhận tại các đơn vị nhƣ siêu thị, trung tâm mua sắm, nhà hàng, khách sạn,….để thay thế cho tiền mặt. Một khách hàng có uy tín và điểm tín dụng cao là điều kiện cần thiết để khách hàng có thể đƣợc cấp thẻ tín dụng.
Khi tiến hành thanh toán, ngân hàng sẽ thực hiện ứng trƣớc tiền cho ngƣời bán, sau đó chủ thẻ sẽ phải thanh toán lại cho ngân hàng sau khi giao dịch mua bán và sẽ phải thanh toán toàn bộ số dƣ trên bản sao kê giao dịch hằng tháng. Tuy nhiên, chủ thẻ phải thanh toán trƣớc ngày đáo hạn theo điều kiện của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trên bản sao kê. Tóm lại, TTD là một phƣơng tiện thanh toán không cần tiếp xúc với tiền mặt, cho phép chủ thẻ đƣợc chi tiêu trƣớc và trả tiền sau trong hạn mức mà ngân hàng phát hành cấp cho chủ thẻ. Phân loại thẻ tín dụng Tùy vào đặc điểm mà TTD sẽ đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau.
Mỗi tiêu chí của mỗi loại TTD sẽ có những đặc điểm phù hợp cho từng đối tƣợng nhất định. Phân loại thẻ tín dụng theo thương hiệu Thẻ tín dụng Visa: Đây là loại thẻ đƣợc sử dụng rộng rãi nhất do tổ chức Visa International Service Association tại Hoa Kỳ phát hành và có mạng lƣới hoạt động thanh toán trên toàn cầu. Thẻ Visa hiện có mặt tại 190 các nƣớc trên toàn thế giới và đƣợc sử dụng cho mục đích thanh toán mua hàng hoặc có thể rút tiền mặt tại ATM. Hầu hết các ngân hàng hiện nay đều phát hành thẻ Visa.
Thẻ tín dụng Mastercard: Đây là loại thẻ đƣợc dùng để thanh toán quốc tế trên toàn cầu do Công ty Mastercard Worldwide của Mỹ liên kết với nhiều ngân hàng để phát hành. TTD Mastercard có hai loại thẻ thanh toán quốc tế khác là Mastercard ảo và Mastercard trả trƣớc. Trong đó Mastercard ảo có tính năng thanh toán online và Mastercard trả trƣớc là loại thẻ định danh, khách hàng chỉ đƣợc chi tiêu trong hạn mức nhất định theo quy định của ngân hàng cấp thẻ. Thẻ tín dụng JCB: Là loại thẻ dùng trong thanh toán quốc tế do Công ty Japan Credit Bureau Nhật Bản phát hành và hiện đang có mặt tại hơn 190 quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam, TTD JCB đƣợc sử dụng từ năm 2011 cho đến nay và rất quen thuộc đối với ngƣời tiêu dùng. Phân loại thẻ tín dụng theo phạm vi sử dụng Thẻ nội địa: Là loại thẻ mà KH chỉ chấp nhận giao dịch phạm vi ở trong nƣớc, vì vậy đơn vị tiền tệ phải là loại đồng tiền của nƣớc đó. Thẻ quốc tế: Là loại thẻ đƣợc sử dụng để giao dịch ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đƣợc chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Loại thẻ này đƣợc hỗ trợ và quản lý bởi các tổ chức tài chính nhƣ Mastercard, Visacard,… 18 Phân loại theo chủ thể Thẻ tín dụng cá nhân: Là loại thẻ phục vụ cho các mục đích tiêu dùng cá nhân, thanh toán hằng ngày do cá nhân thực hiện.
Trong TTD cá nhân có thẻ chính và thẻ phụ, thẻ chính sẽ do chủ thẻ đứng tên phát hành, thẻ phụ sẽ có hạn mức thấp hơn thẻ chính và do ngƣời đứng tên phát hành chịu trách nhiệm. Thẻ tín dụng doanh nghiệp: Là loại thẻ đƣợc cấp cho các công ty, tổ chức với mục đích dùng nguồn tiền của tổ chức để thanh toán các khoản chi tiêu hàng hóa, tiền lƣơng, tạm ứng,…. Vai trò của thẻ tín dụng Trong giao dịch thƣơng mại điện tử Đối với người dùng Thứ nhất, tiết kiệm thời gian và đảm bảo an toàn: Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển văn minh, hiện đại thì việc trao đổi giao thƣơng trong và ngoài nƣớc ngày một tăng. Chính vì vậy, nhu cầu giao dịch thanh toán trong các ngành nghề liên quan đến sản xuất và tiêu dùng ngày càng phát triển, đòi hỏi các phƣơng thức thanh toán phải đa dạng, tối ƣu để hỗ trợ, giải quyết kịp thời và đặc biệt là đảm bảo an toàn cho mỗi lần giao dịch.
TTD là công cụ thanh toán thỏa mãn đầy đủ các điều kiện trên. Ngoài ra, đối với giao dịch qua TMĐT, KH có thể thanh toán mọi lúc mọi nơi một cách nhanh chóng và đơn giản, vừa đảm bảo đƣợc tính an toàn bảo mật, vừa tiện ích đối với những khoảng giao dịch có giá trị lớn do không cần mang theo nhiều tiền mặt. Thứ hai, người dùng có thể hưởng nhiều ưu đãi: Khi sử dụng TTD để thanh toán sẽ đƣợc hƣởng nhiều khuyến mãi hấp dẫn do ngân hàng cung cấp: tích điểm thƣởng, hoàn tiền,…Khi thanh toán chi tiêu các tiện ích hằng tháng nhƣ tiền điện, tiền nƣớc,…KH sử dụng TTD cũng sẽ đƣợc tận hƣởng nhiều ƣu đãi hoàn tiền. Ngoài ra còn có rất nhiều những ƣu đãi hấp dẫn khác khi thanh toán tại nhà hàng, 19 khách sạn và còn đƣợc kèm theo bảo hiểm du lịch toàn cầu cho những đối tƣợng thƣờng xuyên phải ra nƣớc ngoài.
Điều này cũng góp phần kích thích mọi ngƣời sử TTD và đẩy nhanh tiến trình TMĐT. Đối với ngân hàng Thứ nhất, gia tăng thu nhập cho ngân hàng: Trong hoạt động của các NHTM, cho vay là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Việc kinh doanh sản phẩm TTD mang lại nguồn doanh thu và lợi nhuận lớn cho các NHTM chủ yếu nhờ vào lãi (lãi suất, lãi vƣợt hạn mức tín dụng,….), phí (phí phát hành, phí thƣờng niên, phí chậm thanh toán,….) và các khoản phụ thu khác nhƣ phí tăng hạn mức tín dụng, phí cấp lại thẻ,….Bên cạnh đó, thanh toán TTD trực tuyến còn tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng thị trƣờng, tiếp cận đƣợc nhiều KH tiềm năng mà không cần phải mở thêm chi nhánh, vì vậy ngân hàng có thể tiết kiệm đƣợc một phần chi phí mở rộng thị phần. Thứ hai, tăng độ nhận diện thương hiệu: Hầu hết TTD đƣợc cung cấp bởi các NHTM đều có mặt trên các hệ thống phân phối điện từ thông qua mạng quầy giao dịch hoặc các ứng dụng mà ngƣời dùng có thể tải xuống ngay trên điện thoại thông minh (Internet Banking, Mobile App,…) và đƣợc chấp nhận thanh toán, rút tiền tại máy POS hoặc máy ATM trên toàn thành phố, giúp đáp ứng nhu cầu của KH ở mọi khu vực.
Điều này giúp ngân hàng tích cực mở rộng thị phần, xây dựng hình ảnh thƣơng hiệu và có cơ hội đƣợc tuyên truyền, giới thiệu dịch vụ rộng rãi đến với công chúng. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, giảm lượng lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế Trào lƣu không sử dụng tiền mặt đã giúp nâng tầm lợi ích của TTD ngày nay, TTD đóng vai trò giúp kiểm soát đƣợc số lƣợng giao dịch, chi tiêu của ngƣời dân, từ đó nền kinh tế có thể giảm đƣợc một lƣợng lƣu thông tiền mặt nhất định và giảm thiểu chi phí xã hội nhƣ chi phí in ấn, phí vận chuyển, phí kiểm đếm,…. Bên cạnh 20 đó, việc thanh toán bằng TTD đều do ngân hàng quản lý và chịu trách nhiệm, do đó ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát mọi giao dịch cho công tác quản lý vĩ mô và thực hiện chính sách quản lý của Nhà nƣớc.