chương 1, tác giả đã đưa ra lí do chọn đề tài, các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu của đề tài và cấu trúc của khóa luận. Để tăng độ tin cậy, tính thiết thực và hợp lí của đề tài, tác giả sẽ tiến hành trình bày cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu trong chương sau. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa thực chất bao gồm ba loại doanh nghiệp: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Điểm chung của cả ba loại hình doanh nghiệp này là đều có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, số lượng lao động hay doanh thu. Trên thế giới, loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với việc điều hòa và phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa trong các trường hợp sau: • Doanh nghiệp siêu nhỏ Đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và lĩnh vực xây dựng, công nghiệp: Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤10 người. Tổng doanh thu một năm của doanh nghiệp ≤3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn ≤3 tỷ đồng.
Đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤10 người. Tổng doanh thu một năm của doanh nghiệp ≤10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn ≤3 tỷ đồng. • Doanh nghiệp nhỏ Đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và lĩnh vực xây dựng, công nghiệp: Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤100 người. Tổng doanh thu của năm ≤50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp ≤20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật.
Đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: 4 Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤50 người. Tổng doanh thu của năm ≤100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp ≤50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật. • Doanh nghiệp vừa Đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và lĩnh vực xây dựng, công nghiệp: Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤200 người. Tổng doanh thu của năm ≤200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp ≤100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp nhỏ theo quy định của pháp luật.
Đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: Số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm trong doanh nghiệp ≤100 người. Tổng doanh thu của năm ≤300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp ≤100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp nhỏ theo quy định của pháp luật. Đặc điểm và vai trò của DNNVV 2. Đặc điểm của DNNVV DNNVV được hình thành và hoạt động phù với nhu cầu của mỗi địa bàn do đó có thể tận dụng được các nguồn lực có sẵn như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực,… với chi phí thấp.
Bên cạnh đó, DNNVV còn mang tính linh động và dễ thích ứng, với bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, nên hầu hết DNNVV đều năng động hơn, nhạy bén hơn đối với những thay đổi của thị trường. Khi nhu cầu của thị trường thay đổi hay khi gặp khó khăn, nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn bạc đi đến thống nhất thực hiện điều chỉnh, DNNVV dễ dàng thực hiện thay đổi máy móc thiết bị, chuyển hướng sản xuất kinh doanh các mặt hàng để đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu mới của thị trường, vượt qua khó khăn và đạt hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn. Chính từ đặc điểm cần ít vốn để hoạt động nên DNNVV bị hạn chế về khả năng cạnh tranh. Do tiềm lực tài chính thấp nên DNNVV thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, các dự án đầu tư lớn và trong thời gian dài.
Nhìn chung các DNNVV còn nhiều hạn chế về trình độ quản lý và phương thức điều hành doanh nghiệp. Phần lớn DNNVV được thành lập trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghệp… và người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, giám đốc hay quản đốc. Đa số các chủ DNNVV chưa được đào tạo cơ bản, 5 đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. DNNVV nhìn chung thường bị hạn chế hơn so với các doanh nghiệp lớn trong việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương và trong các mối quan hệ với các cơ quan chính quyền, với các tổ chức tài chính như ngân hàng và các quỹ, với các đơn vị báo chí….
Nguyên nhân chủ yếu là do quy mô thị trường của các DNNVV thường bó hẹp trong phạm vi địa phương và do hạn chế về khả năng tài chính dành cho các hoạt động quảng bá của doanh nghiệp. Vai trò của DNNVV Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành. Các doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo các chế độ kế toán đã quy định, việc áp dụng các chế độ kế toán này không chỉ nâng cao hiệu quả của bộ máy kế toán trong các Doanh nghiệp mà còn giúp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng của nền kinh tế nói chung với tiến trình mở cửa, hội nhập nói riêng. Tùy theo loại hình và quy mô doanh nghiệp mà các doanh nghiệp áp dụng các chế độ sao cho phù hợp.
Hiện nay, Bộ tài chính đã ban hành chế độ kế toán theo Quyết định 48/2006 QĐ-BTC ngày 14/09/2006, có hiệu lực ngày 23/10/2006 áp dụng cho các DNNVV. Sau đó được sửa đổi bổ sung tại Thông tư 138/2011 TTBTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán DNNVV theo quyết định 48/2006 QĐ-BTC, thông tư ban hành ngày 4/10/2011, có hiệu lực ngày 1/1/2012. Ngày 22/12/2014, thông tư 200/2014 TT-BTC ban hành, có hiệu lực từ 5/2/2015 và được áp dụng cho năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày 1/1/2015. Thông tư 200 thay thế chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo QĐ 15/2006 QĐ-BTC.
Thông tư này hướng dẫn kế toán áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế. Các DNNVV đang thực hiện kế toán theo chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn được lựa chọn vận dụng theo quy định của thông tư này để kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Ngày 05/8/2015, Bộ tài chính đưa ra dự thảo thông tư thay đổi chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế cho Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 138/2011/TT-BTC ngày 4/10/2011 của Bộ Tài chính. Thông tư này có hiệu lực áp dụng cho năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày 1/1/2017.
Chế độ kế toán 2. Khái niệm 6 Chế độ kế toán là tổng hợp những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành. Một trong các nhiệm vụ quan trọng của kế toán là thực hiện việc thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán quy định tại Luật kế toán hiện hành. Như vậy có thể thấy rằng doanh nghiệp phải tuân thủ theo đúng chế độ kế toán dành cho doanh nghiệp mình.
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, ngành nghề mà doanh nghiệp sẽ áp dụng các chế độ kế toán khác nhau 2.Vai trò của CĐKT Hiện nay, các quy định về kế toán, các hướng dẫn để thực hiện thường được đưa ra cụ thể, chi tiết. Do đó, những quy định mang tính định hướng, khái quát trong Luật kế toán, chuẩn mực kế toán chưa được áp dụng nhiều vào thực tiễn hoạt động kế toán, chủ yếu các kế toán viên thường vận dụng nội dung, hướng dẫn cụ thể trong các Nghị định, thông tư hay quy định cụ thể hóa trong chế độ kế toán. Vì vậy, chế độ kế toán giữ vai trò quan trọng trong hệ thống quy phạm pháp luật của Việt Nam. Chế độ kế toán quy định cụ thể về tài khoản kế toán, chế độ chứng từ, phương pháp lập các Báo cáo tài chính để cung cấp thông tin cho đối tượng sử dụng, hình thức ghi nhận thông tin và xử lý thông tin cho từng đối tượng kế toán.
Những đổi mới và cải thiện trong CĐKT Việt Nam đã từng bước đáp ứng nhu cầu quản lý tốt hơn đối với các hoạt động kinh tế, tài chính ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng. CĐKT đối với DNNVV Nhìn chung, CĐKT đối với DNNVV thực chất được lấy dựa trên CĐKT dành chung cho các doanh nghiệp, song đối với DNNVV lại được tóm lượt, giảm bớt để đơn giản hóa trong công tác kế toán *Về CMKT trong DNNVV: Chuẩn mực kế toán là những quy định về cách thức ban hành trong việc lập cũng như giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. Đây là quy đ ịnh được các tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành. Ở Việt Nam, Bộ Tài Chính là cơ quan chịu trách nhiệm ban hành.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS). Từ năm 2000 đến 2005 Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế. Phù hợp với đặc điểm kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành. 7 Tổng cộng có 26 chuẩn mực kế toán được ban hành bao gồm: 1.
Chuẩn mực chung (VAS 01) 2.