chương 1, tác giả đã trình bày lý do và tính cấp thiết của đề tài, đồng thời đề cập đến mục tiêu, nội dung và câu hỏi nghiên cứu, cùng việc xác định phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài. Cuối cùng, tác giả đã đề xuất kết cấu bố cục của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về thu nhập lãi cận biên 2.
Khái niệm về thu nhập lãi cận biên Theo Ho & Saunder (1981) định nghĩa rằng: "Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là mức đo sự chênh lệch giữa lợi nhuận từ các khoản phát sinh lãi do ngân hàng tạo ra và số tiền lãi trả cho người cho vay của họ, đó là các khoản tiền gửi của khách hàng, là khoản chi phí phải trả cho các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư vào ngân hàng". Hempel và cộng sự (1986) nhận định tỷ lệ TNLCB được coi là một công cụ quan trọng để đo lường các biến đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và để so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng. Tỷ lệ TNLCB của một ngân hàng được xác định là sự chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, chia cho tổng tài sản sinh lời của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định như quý hoặc năm. Thông thường, biên độ này được tính toán dưới dạng tỷ lệ phần trăm, cung cấp một đánh giá về hiệu suất tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định (Golin, 2001).
Trong khóa luận này, tỷ lệ TNLCB được định nghĩa là sự chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi của ngân hàng, sau đó chia cho tổng tài sản sinh lời. TNLCB là một chỉ số quan trọng thể hiện khả năng của ngân hàng trong việc kiểm soát chi phí và tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng hiệu quả tài sản sinh lời và tối ưu hóa nguồn vốn với chi phí thấp nhất. Đo lường thu nhập lãi cận biên Tỷ số NIM là tỷ số rất cần thiết giúp chúng ta hiểu cách đo lường và ảnh hưởng của hai quyết định bên trong và bên ngoài, (Golin, 2001) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑁𝐼𝑀 = = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 Trong đó: 8 NIM (Net Interest Margin): Là tỷ lệ TNLCB, đại diện cho chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi. TNLCB là sự chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi.
Thu nhập lãi của ngân hàng gồm các khoản thu từ các tổ chức tín dụng và hoạt động cho vay khách hàng, nghiệp vụ bảo lãnh. nghiệp vụ mua bán nợ, tiền gửi, chứng khoán nợ. Chi phí lãi phát sinh chủ yếu từ việc huy động vốn và vay nợ, có thể là vay nợ ngắn hạn hoặc dài hạn. Tổng tài sản sinh lời của một tổ chức bao gồm tổng số tiền đầu tư và các nguồn thu khác từ hoạt động kinh doanh.
Điều này bao gồm tổng số tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác, cùng với số tiền cho vay cho các tổ chức tín dụng và mua nợ. Ngoài ra, tổng tài sản sinh lời cũng bao gồm các khoản đầu tư vào chứng khoán. Cần lưu ý rằng tổng tài sản sinh lời được tính mà không bao gồm các khoản dự phòng cho rủi ro và giảm giá thường để phản ánh một cách chính xác và trung thực nhất về giá trị thực tế của tài sản. Điều này nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và đầy đủ của các khoản tài sản có khả năng tạo ra lợi nhuận trong quá trình hoạt động của tổ chức tín dụng.
Các khoản mục này được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán theo quy định của luật pháp về báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được tính trung bình các quý trong năm (Phan Thị Thu Hà, 2013). Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Trong những năm gần đây, các NHTMCP đã tích cực thực hiện các biện pháp đổi mới chính sách, đa dạng hóa dịch vụ và mở rộng thị trường nhằm tăng cường hiệu suất kinh doanh của họ. Điều này không chỉ hỗ trợ sự phát triển và ổn định của nền kinh tế, mà còn giúp giảm thiểu được những rủi ro đang tiềm ẩn trong nền kinh tế mà các ngân hàng có thể phải gặp phải. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cao hơn về việc đánh giá hiệu suất từ lợi nhuận thông qua các chỉ số kinh tế.
Điều này là cần thiết để kiểm soát và quản lý hiệu quả các hoạt động kinh doanh chủ chốt của các ngân hàng. Tỷ lệ TNLCB cung cấp cho nhà quản trị một cái nhìn tổng thể về tiềm năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng của NHTM. Thông qua việc đánh giá TNLCB, nhà quản trị có thể điều chỉnh và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản có khả năng sinh lợi, 9 tìm kiếm nguồn vốn với chi phí thấp, và thực hiện chính sách về lãi suất một cách linh hoạt và hiệu quả. Điều này giúp tối ưu hóa cơ cấu tài sản và nguồn vốn của ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường lợi nhuận và bảo đảm sự ổn định và bền vững của hoạt động kinh doanh.
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2010) một tỷ lệ TNLCB cao thường cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong việc quản lý tài sản và nợ một cách hiệu quả của ngân hàng. Ngược lại, một TNLCB thấp có thể phản ánh những bất lợi trong việc tạo ra lợi nhuận và cần phải được chú ý và điều chỉnh để cải tiến được năng suất hoạt động của ngân hàng.Tổng quan các nghiên cứu có liên quan về các yếu tố ảnh hưởng thu nhập lãi cận biên ngân hàng 2. Các nghiên cứu nước ngoài Trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM tại Pakistan của Gul, Irshad, and Zaman (2011) trong giai đoạn từ 2005 đến 2009 thì nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất Pooled OLS với dữ liệu từ 15 ngân hàng hàng đầu tại Pakistan. Các biến phụ thuộc trong nghiên cứu bao gồm ROA, ROE, NIM, ROCE, trong khi các biến độc lập bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, GDP, tỷ lệ lạm phát, và giá trị vốn hoá thị trường.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng các biến như quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, cho vay, tiền gửi và GDP có tác động ngược chiều đối với NIM, trong khi tỷ lệ lạm phát và giá trị vốn hoá thị trường có tác động cùng chiều với NIM. Vào giai đoạn 1996-2009, Hassan Hamadi và Ali Awdeh (2012) đã xem xét các yếu tố quyết định tỷ lệ TNLCB của NHTM mại ở Lebanon, sử dụng dữ liệu chính sách tiền tệ và kinh tế vĩ mô của từng ngân hàng cụ thể, từng ngành cụ thể. Kết quả cho thấy có sự khác biệt về NIM giữa các ngân hàng trong nước và quốc tế. Đối với các ngân hàng trong nước, quy mô, tính thanh khoản và hiệu quả của các ngân hàng trong nước, cũng như vốn hóa, rủi ro tín dụng đều có tác động tiêu cực đến tỷ lệ TNLCB.
Ngược lại, cho vay, lãi suất chiết khấu ngân hàng trung ương, tốc độ tăng 10 trưởng tiền gửi ,tiết kiệm quốc gia, lạm phát ,đầu tư trong nước và ở mức độ thấp hơn là tỷ giá liên ngân hàng tất cả đều thúc đẩy tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng trong nước. Đối với các ngân hàng nước ngoài, nghiên cứu phát hiện ra rằng quy mô, tính thanh khoản, vốn hóa và rủi ro tín dụng không có tác động đáng kể Ong Tze San và The Bon Heng (2013) đã tiến hành một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của 20 NHTM ở Malaysia trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2009. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu sử dụng ba chỉ số đo lường lợi nhuận của ngân hàng là ROA, ROE, và NIM cùng với các biến độc lập để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng biến tính thanh khoản và tỷ lệ dự phòng rủi ro tương quan dương với tỷ lệ TNLCB.
Trái lại, tương quan âm xảy ra với tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập. Các yếu tố khác như kích cỡ ngân hàng, lạm phát, GDP có tương quan dương với tỷ lệ TNLCB nhưng không đạt được ý nghĩa thống kê. Biến kích cỡ vốn chủ sở hữu lại có tương quan âm và không đạt được ý nghĩa thống kê với tỷ lệ TNLCB. Rahman và cộng sự (2015) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Bangladesh.
Nhóm tác giả đã phân tích dữ liệu từ 25 NHTM trong quốc gia này trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2013. Họ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, bao gồm mô hình Pooled OLS, FEM, và GLS. Nhóm tác giả quan tâm đến các chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm tỷ lệ TNLCB, ROA và ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng NIM của các ngân hàng này bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Cụ thể, các yếu tố như tốc độ cho vay, thu nhập ngoài lãi ,quy mô của ngân hàng, tỷ lệ đòn bẩy tài chính , rủi ro tín dụng, và tốc độ tăng trưởng kinh tế đều có ảnh hưởng tích cực đến NIM. Tuy nhiên, hiệu quả chi phí và các yếu tố ngoại bảng thì lại có ảnh hưởng tiêu cực đến NIM. Islam và Nishiyama (2016) nghiên cứu về các yếu tố quyết định tỷ lệ TNLCB của các ngân hàng thông qua các yếu tố ảnh hưởng đến của các ngân hàng tại bốn quốc gia Nam Á, bao gồm Bangladesh, Ấn Độ, Nepal và Pakistan. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 230 ngân hàng và áp dụng phương pháp mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM) trong giai đoạn từ năm 1997 đến 2012.
Kết quả của nghiên cứu 11 chỉ ra rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ thanh khoản , dự trữ bắt buộc và hiệu quả chi phí có tương quan dương đến tỷ suất lợi nhuận ròng. Ngược lại, mức độ tập trung của thị trường ,quy mô ngân hàng tương đối và tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng.