CHƯƠNG 1 Trong chương này, nêu rõ ra tính cấp thiết của đề tài; nêu ra được các mục tiêu cụ thể cho đến mục tiêu tổng quát và các câu hỏi cho nghiên cứu này thông qua đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Đồng thời trong chương này đã đưa ra bố cục dự kiến của khóa luận là cơ sở để thực hiện các nội dung ở chương tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 sẽ giải thích lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập và rủi ro thanh khoản của ngân hàng một cách chi tiết. Bên cạnh đó, chương này cũng sẽ tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đó về những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản và tác động của việc đa dạng hóa thu nhập đối với rủi ro thanh khoản của các ngân hàng Thương mại Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP 2. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa trong đầu tư là một ý tưởng thông minh, giúp nhà đầu tư phân bổ tiền một cách thông minh vào nhiều loại đầu tư khác nhau. Khi một lĩnh vực đầu tư giảm sút, việc chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực khác đang tăng trưởng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư (Markowitz, 1952). Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa thu nhập là quá trình đa dạng hóa các sản phẩm tài chính và dịch vụ để tạo ra thu nhập ngoài lãi.
Điều này bao gồm việc mở rộng hoạt động từ tín dụng sang phi tín dụng, bao gồm thu nhập từ các khoản phí dịch vụ ngân hàng, hoa hồng từ việc bán bảo hiểm và các hoạt động khác. Theo nghiên cứu của Elsas và cộng sự (2010), các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng cách chuyển từ các hoạt động sinh lời truyền thống như tiền gửi và cho vay sang các hoạt động thu phí. Dựa trên nguồn thu phí ổn định này, các ngân hàng tiếp tục mở rộng sang các hoạt động phi truyền thống khác, chẳng hạn như đầu tư, nhằm tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động. Một số nghiên cứu trong nước của Nguyễn và cộng sự (2018), Võ và cộng sự (2015), Hồ và cộng sự (2015), Lâm và cộng sự (2015) đều đưa ra quan điểm cho rằng 9 sự đa dạng hóa thu nhập là việc tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi và giảm dần tỷ trọng các hoạt động ngoài lãi.
Vậy nên, việc tăng cường đa dạng hóa nguồn thu nhập là quá trình mở rộng cơ cấu thu nhập từ các hoạt động khác ngoài việc nhận lãi suất trong ngân hàng. Điều này bao gồm việc phát triển các sản phẩm tài chính như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, ngân hàng điện tử, thẻ ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới đầu tư chứng khoán, và bảo hiểm Bancassurance. Các sản phẩm này cần phải mang lại lợi ích cao, giao dịch thuận tiện, nhanh chóng và chính xác, được liên kết với nhau và phát triển một cách hài hòa, đặc biệt là phải đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm của đa dạng hóa thu nhập Nghiên cứu của Mercieca và các cộng sự (2007) đã xác định ba xu hướng đa dạng hóa thu nhập ở ngân hàng: đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính, đa dạng về địa lý và kết hợp quản lý và kinh doanh đa dạng hóa địa lý.
Dù xảy ra theo hướng nào thì mục tiêu cuối cùng của việc đa dạng hóa vẫn là giảm thiểu rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Theo Thanh Tam Le và các cộng sự (2022) đa dạng hóa là quá trình mà một địa phương, công ty hoặc cá nhân tìm cách phát triển phạm vi hoạt động hoặc sản xuất để giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc chuyên môn hóa quá mức. Đây là một phương pháp giảm thiểu rủi ro phi hệ thống thường được áp dụng trong quản lý đầu tư. Đa dạng hóa thu nhập ngân hàng có nghĩa là ngân hàng bổ sung và làm phong phú thêm nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ.
trong khuôn khổ được pháp luật cho phép. Do đó đa dạng hóa thu nhập ở các NHTM sẽ có hai thành phần thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Trong đó: Thu nhập từ lãi Cho vay và huy động là hai nghiệp vụ truyền thống, cốt lõi của NHTM. Các NHTM huy động tiền nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức.
Để có lợi nhuận thì ngân hàng 10 phải thiết lập lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, phần chênh lệch giữa hai mức lãi suất này sẽ tạo nên thu nhập thuần từ lãi (Net interest income) cho ngân hàng Thu nhập ngoài lãi Khoản thu nhập của ngân hàng được thể hiện bằng chênh lệch giữa các khoản thu từ hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ khác ngoài tín dụng và chi phí bỏ ra không có tính chất lãi để thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó, được gọi là thu nhập thuần ngoài lãi (Non interest income). Thông thường thu nhập ngoài lãi có được từ bốn nguồn: thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu từ dịch vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, thu từ các khoản hoa hồng và phí khác (Stiroh 2004). Thu nhập thuần từ hoạt động ngoài tín dụng hay thu nhập thuần ngoài lãi được tính toán bằng cách lấy các khoản thu nhập kể trên trừ đi các chi phí phát sinh tương ứng cho các khoản thu này. Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng là chỉ tiêu sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu cả trong và ngoài nước.
Phương pháp đo lường của đa dạng hóa thu nhập Để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của các NHTM ta có thể sử dụng chỉ số HHI (Herfindahl – Hirshman). HHI là một công cụ phân tích quan trọng và khá phổ biến trong nghiên cứu kinh tế và tài chính vì nó cung cấp một cách tiếp cận đơn giản nhưng hiệu quả để đánh giá mức độ tập trung hoặc phân phối của nguồn thu nhập trong một tổ chức. Bên cạnh đó, nó còn cho phép so sánh giữa các ngân hàng khác nhau về mức độ đa dạng hóa thu nhập, giúp nhà nghiên cứu và quản lý ngân hàng có cái nhìn sâu sắc hơn về vị trí của mình so với ngành. Mercieca và các cộng sự (2007) xây dựng cách tính khi phân chia nguồn thu nhập của ngân hàng thành thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi: NET 2 NON 2 HHIrev = ( ) +( ) (2.1) NETOP NETOP 11 Trong đó: NET: thu nhập lãi thuần trên báo cáo tài chính ngân hàng NON: thu nhập thuần ngoài lãi, bao gồm tổng lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn mua cổ phần.
NETOP: tổng thu nhập của ngân hàng (NETOP= NON+NET) Theo đó, HHI nhận giá trị từ 0. Khi HHI đạt 0.5, ngân hàng đạt mức đa dạng hóa mà vẫn đảm bảo lợi nhuận cao nhất. Giá trị HHI càng cao hơn 0.5 cho thấy thu nhập được đa dạng hóa ít hơn, dẫn đến sự tập trung lợi nhuận. Bên cạnh đó, để giải thích các nguồn thu nhập có thể dương hoặc âm, Stiroh KJ và cộng sự (2006), cùng Chiorazzo và cộng sự (2008) đã áp dụng chỉ số DIV để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập.
NET 2 NON 2 DIV=1- ( ) +( ) (2.2) NETOP NETOP Khi chỉ số DIV cao hơn, mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng cũng cao hơn. Chỉ số DIV đạt giá trị tối đa là 0.5, tượng trưng cho sự đa dạng hóa hoàn hảo, và khi xa hơn giá trị này (có thể âm), mức độ đa dạng hóa sẽ giảm đi. DIV Bằng 0 nghĩa là tất cả thu nhập ngân hàng đều chỉ từ một nguồn (đa dạng hóa thấp nhất, tập trung hoàn toàn). Vai trò của đa dạng hóa thu nhập Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế, việc đa dạng hóa thu nhập ngân hàng trở thành một xu hướng không thể tránh khỏi.
Đa dạng hóa thu nhập nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng, đặc biệt trong môi trường kinh doanh đầy thách thức và tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng. Do đó, đa dạng hóa thu nhập đóng vai trò quan trọng đối với các ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế nói chung. Cụ thể: 12 Đối với khách hàng, nó tiết kiệm thời gian và chi phí, cải thiện trải nghiệm bằng cách cung cấp nhiều lựa chọn dịch vụ tại một điểm duy nhất, và giúp giảm thiểu rủi ro tài chính cá nhân Đối với các NHTM, đa dạng thu nhập giúp tăng hiệu quả kinh doanh bằng cách tránh phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất. Ngân hàng phân tán rủi ro và giảm thiểu tổn thất từ biến động kinh tế hoặc thị trường.
Đa dạng sản phẩm và dịch vụ giúp ngân hàng nổi bật, cạnh tranh tốt hơn và thu hút khách hàng. Nguồn thu nhập đa dạng giúp ngân hàng duy trì thu nhập ổn định khi kinh doanh gặp khó khăn. Đầu tư vào công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Đối với nền kinh tế, các Ngân hàng hoạt động hiệu quả và đa dạng thu nhập sẽ tài trợ cho doanh nghiệp và dự án phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng.
Hệ thống ngân hàng thu nhập đa dạng ổn định, giảm rủi ro hệ thống, ổn định tài chính quốc gia. Ngân hàng ĐDHTN cung cấp sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu ngành kinh tế, hỗ trợ phát triển đồng đều. Dịch vụ tài chính đa dạng, liên kết tổ chức quốc tế giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế, hội nhập kinh tế toàn cầu. ĐDHTN khuyến khích ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực mới, hỗ trợ sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển kinh tế bền vững.
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản Hiện nay, có nhiều định nghĩa về rủi ro thanh khoản theo từng quan điểm của từng tác giả: Theo Uỷ ban Basel (2006) phân loại rủi ro thanh khoản thành hai loại là: Rủi ro thanh khoản nguồn vốn và rủi ro thanh khoản thị trường.