chương 1, chương 2 sẽ đi sâu hơn vào các cơ sở lý thuyết của đề tài đồng thời thể hiện việc ứng dụng thực nghiệm của đề tài này thông qua các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đó. Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp các khái niệm lý thuyết và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài, nhằm xây dựng nền tảng cho việc phân tích và đánh giá trong bài khóa luận này, từ đó góp phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ĐDHTN và HQKD của các NHTM Việt Nam. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2. Tổng quan về đa dạng hóa thu nhập 2.
Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Theo Ansoff (1957), thuật ngữ đa dạng hóa thường được nhắc đến như là việc thay đổi các đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trường, ngược lại với việc tiếp cận thị trường, phát triển thị trường hoặc phát triển sản phẩm. Đa dạng hóa đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp, đa dạng hóa là một cách để họ mở rộng được hoạt động kinh doanh chính của họ trong các thị trường sản phẩm khác nhau. Các doanh nghiệp muốn đa dạng hóa khi muốn hoạt động đồng thời trong ít nhất hai lĩnh vực và trong ngành ngân hàng thì đa dạng hóa xảy ra khi ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của chính mình, bao gồm các thu nhập từ lãi suất, các dịch vụ truyền thống và các thị trường sản phẩm, dịch vụ khác.
Mercieca và cộng sự (2007) cũng đã chỉ ra sự đa dạng hóa trong ngành ngân hàng thường được thực hiện theo ba hướng: (i) Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, (ii) Đa dạng hóa theo vị trí địa lý, và (iii) Đa dạng hóa thông qua sự kết hợp các sản phẩm, dịch vụ và vị trí địa lý. Sự ĐDHTN của các NHTM thường đi kèm với việc mở rộng hoạt động kinh doanh và giảm dần tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động cung cấp tín dụng truyền thống. Theo Ebrahim and Hasan (2008), ĐDHTN như một sự mở rộng các dịch vụ tài chính mới tạo ra thu nhập ngoài các dịch vụ trung gian truyền thống. Theo Sanya and Wolfe (2011), ĐDHTN được coi là phương tiện giúp phân tán rủi ro tín dụng, vốn thường tập trung trong danh mục cho vay của NH, sang các 9 hoạt động phi lợi nhuận khác mà NH tham gia.
Trong nền kinh tế mới nổi, ĐDHTN cho phép NH tham gia vào các hoạt động thu nhập phi lãi suất như việc phát hành chứng khoán, bảo hiểm và đầu tư bất động sản. Theo Gürbüz và cộng sự (2013), ĐDHTN là việc ngân hàng tăng tỷ lệ các khoản phí, lợi nhuận từ giao dịch ròng và các khoản thu nhập phi lãi suất trong tổng thu nhập hoạt động ròng của một ngân hàng. Như vậy, ĐDHTN là một chiến lược mà NH sử dụng để có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của họ thông qua phát triển các mảng phi truyền thống và các sản phẩm tài chính khác chẳng hạn như dịch vụ chuyển tiền nội địa và quốc tế, dịch vụ thẻ, giao dịch ngoại tệ, môi giới chứng khoán, hoa hồng địa ốc,. Điều này giúp NH có thể sự phụ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động truyền thống như cung cấp tín dụng đồng thời có thể gia tăng thu nhập từ các nguồn thu nhập khác nhau qua đó có thể giảm được rủi ro cho NH.
Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman là hai yếu tố mà thông qua đó ngân hàng đo lường ĐDHTN (Asif & Akhter, 2019; Brahmana và cộng sự, 2018). Trong đó, ở lược khảo nghiên cứu cùng đề tài trước đây, Asif & Akhter (2019) đã thống kê được rằng mẫu nghiên cứu hay các NH trong mẫu nghiên cứu sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi lên đến 44% và sử dụng chỉ số HHI để đo lường ĐDHTN là 29%. • Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Mỗi nghiên cứu đều có một cách để phân loại thu nhập của NH. Theo Gürbüz và cộng sự (2013), họ phân thu nhập của ngân hàng thành hai loại gồm thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi.
Trong khi đó, theo Elsas và cộng sự (2010)phân loại thu nhập ngân hàng chi tiết hơn, bao gồm thu nhập từ lãi, thu nhập từ phí dịch vụ, thu 10 nhập từ kinh doanh và đầu tư, cùng với các khoản thu nhập khác. Nếu ta phân chia bài nghiên cứu của Elsas và cộng sự thành hai loại là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, thì khi đó, thu nhập ngoài lãi sẽ bao gồm thu nhập từ phí dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh, đầu tư cùng với các khoản thu nhập khác mà ngân hàng thu được. Ngoài ra nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC cũng chỉ ra: “Thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh lương thưởng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu), thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác. Trong đó, thu nhập lại chính là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lại từng hiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng.
Thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu); thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác”. Để đo lường ĐDHTN của ngân hàng, các nghiên cứu liên quan như Lee và cộng sự (2014), Nguyễn Minh Sáng (2017), Nguyễn Thị Thùy Trang và cộng sự (2018), Moudud-Ul-Hud và cộng sự (2018) đã sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng. Tỷ lệ này được tính như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 NON = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Trong đó: Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ + 11 Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Thu nhập thuần từ hoạt động khác. Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi – Chi phí lãi Tổng thu nhập thuần = Thu nhập thuần ngoài lãi + Thu nhập lãi thuần Với giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì tỷ lệ NON có giá trị từ 0 tới 1.
Giá trị này càng cao thì ĐDHTN càng cao. • Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman Sanya & Wolfe (2011), Gürbüz và cộng sự (2013), Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai (2015) cũng đã thông qua chỉ số HHI để đánh giá mức độ tập trung của nguồn thu nhập của ngân hàng trong nghiên cứu của mình. Cụ thể, chỉ số này đo lường được sự khác biệt giữa thu nhập từ lãi và thu nhập từ các nguồn khác. Công thức tính chỉ số này như sau: HHI = INT2 + NON2 INT: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần NON: Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần Với giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì HHI có giá trị từ 0,5 đến 1.
Trường hợp HHI có giá trị bằng 0,5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn toàn, và HHI bằng 1 nghĩa là mức thấp nhất. HHI càng gần bằng 1 có nghĩa là NH càng tập trung nhiều vào một nguồn thu nhập và mức độ ĐDHTN càng thấp. Nghiên cứu của Stiroh & Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008) đã sử dụng một cách tính khác để tính chỉ số ĐDHTN. Nó dễ giải thích ý nghĩa hơn mặc dù vẫn sử dụng chỉ số HHI.
Chỉ số này có công thức như sau: DIV = 1 – HHI = 1 – (INT2 + NON2) 12 Khi HHI đạt giá trị cao nhất là 1 thì DIV đạt giá trị thấp nhất là 0, tức là mức đa dạng hóa của NH đó bằng 0, nghĩa là NH chỉ tập trung vào một nguồn thu nhập từ lãi, bỏ qua các nguồn thu nhập khác. Ngược lại, khi HHI đạt giá trị thấp nhất là 0,5, DIV đạt giá trị lớn nhất là 0,5, đây là mức đa dạng hóa cao nhất, cho thấy rằng ngân hàng có sự hình thành tỷ lệ các nguồn thu nhập giữa 2 nguồn thu là thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. • Đo lường đa dạng hóa bằng tỷ lệ từng loại thu nhập ngoài lãi Dựa trên nghiên cứu của Elsas và cộng sự (2010), các khoản thu nhập của ngân hàng có thể phân chia theo nhóm chi tiết hơn, bao gồm thu nhập từ lãi, thu nhập từ hoạt động dịch vụ như phí dịch vụ và các khoản phí khác, thu nhập từ kinh doanh, đầu tư cùng với các khoản thu nhập khác như lãi từ giao dịch ngoại hối, hoa hồng môi giới chứng khoán, và các nguồn thu khác liên quan. Khi đó, dựa trên sự thay đổi và phân bố các khoản thu nhập này, chỉ số ĐDHTN có thể được tính toán để đánh giá mức độ đa dạng hóa và phân tán rủi ro trong các nguồn thu nhập của ngân hàng: HHIRD = 1 – ( INT2 + COM2 + TRAD2 + OTH2) Trong đó : INT: Tỷ lệ thu nhập lãi ròng so với tổng thu nhập ròng COM: Tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt động dịch vụ so với tổng thu nhập ròng TRAD: Tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh, đầu tư so với tổng thu nhập ròng OTH: Tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt động khác so với tổng thu nhập ròng Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng chỉ số HHI giống với nghiên cứu của Stiroh & Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008) để đo lường ĐDHTN của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 – 2023.
Tổng quan về hiệu quả kinh doanh ngân hàng 2. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh ngân hàng Hiệu quả có thể được đề cập và nhìn nhận khác nhau qua những lĩnh vực, góc nhìn khác nhau, do đó, có thể thấy rằng khái niệm hiệu quả vẫn chưa được thống nhất rõ ràng.