Đặt vấn đề Trong bối cảnh hiện nay, các quốc gia trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang chuyển sang xu hướng hội nhập sâu và rộng. Để bắt kịp xu hướng này, các lĩnh vực góp phần vào phát triển nền kinh tế đất nước đã và đang củng cố cũng như phát huy các thế mạnh trong mỗi nhóm ngành. Trong đó, NH được xem là tổ chức luôn tiên phong, linh hoạt trong việc thích ứng nhanh chóng và kịp thời với các khó khăn để hoàn thành tốt các nhiệm vụ duy trì sự ổn định và tăng trưởng kinh tế cũng như hiệu suất của ngành ngân hàng có tác động đáng kể đối với nền kinh tế tổng thể của đất nước (Alim, Ali và Metla 2021). Ngoài ra, ngân hàng phải đảm bảo tiến trình luân chuyển nguồn vốn một cách hợp lý bằng cách cân đối được hai yếu tố quan trọng là tài sản và nguồn vốn.
Đối với phía nguồn vốn, ngân hàng sẽ huy động cũng như nhận tiền gửi với lãi suất huy động đề ra phù hợp để thu nguồn vốn từ nhiều nguồn khách hàng. Đối với phía tài sản, ngân hàng cho khách hàng vay với lãi suất cho vay ưu đãi nhưng lãi suất này sẽ cao hơn lãi suất huy động để NH hưởng phần chênh lệch lãi suất nhằm làm tăng lợi nhuận. Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chính cho các ngân hàng cũng như giúp ngân hàng đẩy mạnh việc tăng trưởng tín dụng để có thể gia tăng nguồn lợi nhuận và mở rộng quy mô ngân hàng. Vì vậy, hệ thống NH nói chung hay các NHTM nói riêng được xem như huyết mạch của nền kinh tế thông qua việc giữ vai trò trung gian tài chính cũng như là chiếc cầu nối giữa 2 những người cần vốn và những người thừa vốn với nhau (Alalade, Ogbebor và Akwe 2020).
Chính vì ngành ngân hàng giúp duy trì sự cân bằng giữa nguồn cung và nhu cầu tiền tệ, đa dạng hóa chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bằng cách cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ theo các quy mô khác nhau (Sante, Murni và Tunglung 2021) với mục tiêu lấy khách hàng làm trung tâm, mở rộng hơn giữ mối quan hệ mật thiết giữa NHNN và các tổ chức trong nhiều nhóm ngành để thúc đẩy lợi ích kinh tế của nhóm ngành NH nói riêng và các lĩnh vực tài chính cộng đồng nói chung nên các NH không thể tránh khỏi các nhiều loại rủi ro tồn tại như RRTD, rủi ro hoạt động, rủi ro lãi suất (Arif và Anees, 2012). Ngoài những loại rủi ro được đề cập phía trên, ngân hàng còn phải đối diện với RRTK. Thực tế, rủi ro thanh khoản không những xảy ra khi NH không có đủ nguồn tài chính để thực hiện các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà còn liên quan đến tình trạng các KH đột ngột rút tiền vào cùng một thời điểm khiến tổ chức gặp khó khăn, buộc ngân hàng trở nên bị động khi phải bán bớt tài sản để chuyển hóa thành vốn khả dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu chi trả cho KH. Vì vậy, RRTK không chỉ ảnh hưởng đến KNSL của NH mà còn ảnh hưởng đến uy tín của mỗi NH hay toàn bộ hệ thống, thậm chí còn ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng khi ngân hàng không kiểm soát loại rủi ro này một cách hiệu quả.
Tính cấp thiết của đề tài Vodová (2011) đã phát hiện rằng sau nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, các nhà quản trị bước đầu nhìn nhận được tầm quan trọng của việc kiểm soát đo lường cũng như đề cao công tác quản lý tính thanh khoản của toàn bộ hệ thống NH. Thật vậy, bối cảnh kinh tế của quốc gia Việt Nam giai đoạn nghiên cứu là từ năm 2010 đến năm 2014 đã ghi nhận bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nợ công, song cũng có nghiên cứu của Vũ Sỹ Cường (2015) và Vũ Quang Huy (2016) đã đề cập đến vấn đề này. Đơn cử từ các giả trên, Vũ Quang Huy (2016) đã nghiên cứu rằng cuộc khủng hoảng nợ công ảnh hưởng đến công tác quản trị RRTK cũng như tác động đến tính an toàn thanh khoản trong hệ thống NH. Trong đó, Vũ Quang Huy (2016) cho rằng khủng 3 hoảng nợ công làm thay đổi cơ cấu vốn của các ngân hàng.
Các TCTD trong giai đoạn này có xu hướng không cho vay dẫn đến lãi suất của thị trường liên NH tăng cao làm cho nguồn vốn huy động trong thị trường 2 (các giao dịch liên ngân hàng) này cũng giảm. Thứ hai, trong thời kỳ nay, đồng tiền nội tệ có xu hướng giảm làm cho niềm tin, tâm lý của KH gảm sút và các KH không có xu hướng gửi tiền vào NH và tình trạng này đã khiến nguồn huy động vốn từ thị trường 1 (giao dịch giữa các tổ chức và doanh nghiệp, người dân) bị sụt giảm. Không những vậy, tâm lý của các KH đang gửi tiền tại các NH sẽ bị ảnh hưởng cũng như làm cho các KH cảm thấy không còn an toàn dẫn đến xu hướng rút tiền hàng loạt. Thực tế, đối diện với việc rút tiền liên tục từ người gửi, ngoài việc gặp các vấn đề thanh khoản, NH tiệm cận với làn sóng sáp nhập cũng như nguy cơ phá sản.
Vấn đề về khủng nợ công không chỉ làm cho công tác quản lý rủi ro thanh khoản trở nên khó khăn hơn mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL của hệ thống NHTM tại quốc gia Việt Nam. Trước những khó khăn được đề cập phía trên, để nâng cao quy định về vấn đề thanh khoản cũng như đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn nhằm tăng cường công tác kiểm soát RRTK và đảm bảo sự phát triển bền vững trong lĩnh vực ngân hàng, BCBS đã ban hành Hiệp ước Basel I, Basel II và Basel III và thực tế nhiều ngân hàng cũng đang tuân thủ khi áp dụng các quy định này. Trong đó, Hiệp ước Basel III có nhiều quy định khắc khe hơn nên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có nhiều ngân hàng áp dụng mà đa phần hệ thống ngân hàng vẫn đang áp dụng chuẩn Hiệp ước Basel II (Nguyễn Thị Lan Anh 2023). Thật vậy, trước tình hình gần 200 ngân hàng trên thế giới đã thực hiện tuân thủ theo Hiệp ước Basel II vào cuối năm 2022 và sau khi đánh giá thế mạnh của mình, Việt Nam triển khai Basel II cũng như xem Basel II là một mục tiêu cần được hoàn thiện còn Basel III mới chỉ thu hút sự chú ý và thực hiện từ một số ít ngân hàng tại Việt Nam.
Tuy nhiên, Hiệp ước Basel III vẫn là mục tiêu để các ngân hàng tại Việt Nam ứng dụng vào công tác quản trị rủi ro trong tương lai (Đặng Văn Dân 2016; Nguyễn Thị Ánh Ngọc và Nguyễn Thị Diễm 2023), đặc biệt khi quản lý RRTK đạt được mức độ hiệu quả nhất định sẽ mang lại những ảnh hưởng tích cực đến tình hình HĐKD cũng như KNSL của các NH. 4 Như đã đề cập, NH đóng vai trò quan trọng đến hiệu quả của nền kinh tế của mỗi quốc gia nhưng nếu công tác quản lý nhân tố RRTK không tốt sẽ dẫn đến hiệu quả HĐKD (hay còn gọi là KNSL) của mỗi cá nhân NH nói riêng cũng như toàn hệ thống NH nói chung không hiệu quả (Rehman và Jannat 2023). Thậm chí, hậu quả trên sẽ dẫn đến sự suy tàn của bất kỳ ngân hàng nào bởi phải đối diện với hàng loạt hoạt động mua bán và sáp nhập để đảm bảo tính ổn định thanh khoản cũng như đảm bảo tính an toàn cho toàn bộ hệ thống (Huỳnh Thị Hương Thảo và Lê Hoàng Anh 2015). Bên cạnh đó, Trần Hoàng Ngân, Trần Phương Thảo và Nguyễn Hữu Huân (2014) cũng cho rằng sự biến mất hoặc sáp nhập của một số ngân hàng nhỏ xuất phát từ tình hình các NHTM Việt Nam từ sau năm 2008 đã phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức cũng như chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Trước sự ảnh hưởng nghiêm trọng của thực trạng trên, Chính phủ cũng áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ nhưng đỉnh điểm vào năm 2011, tình hình nợ xấu ở biến động tăng cao dẫn đến chất lượng tín dụng có xu hướng giảm dốc, thanh khoản gặp khó khăn và lãi suất bình quân liên ngân hàng tăng mạnh so với mức trần quy định của NHNN. Điều này đã tạo nên hiệu ứng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công tác cải thiện KNSL của NHTM nói riêng cũng như nền kinh tế của quốc gia Việt Nam nói chung. Ngoài ra, khủng hoảng đại dịch COVID – 19 đã tạo ra một làn sóng tác động nghiêm trọng mạnh mẽ kèm theo nhiều thách thức đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng trong giai đoạn 2019 – 2022 (Amnim và cộng sự 2021). Theo Haider và Mohammad (2022) đã chỉ ra rằng trong giai đoạn ảnh hưởng trầm trọng của đại dịch COVID – 19, ngoài yếu tố lợi nhuận của NH bị giảm, việc duy trì cũng như kiểm soát yếu tố thanh khoản quan trọng hơn chất lượng tín dụng.
Không những vậy, quá trình hồi phục trở nên phức tạp cũng như khó khăn hơn và làm cho KH có xu hướng tiêu thụ tiết kiệm (giữ tiền mặt) và rút tiền mặt để hỗ trợ cuộc sống hằng ngày nhiều hơn là gửi tiền vào NH. Điều này đã làm giảm nguồn huy động vốn dẫn đến năng lực cung cấp vốn cho vay để tài trợ cho các hoạt động cấp tín dụng và những nhu cầu đầu tư mới của NH bị giảm sút (Barua và Barua 2021). Với vai trò là 5 trung gian tài chính, ngoài việc ứng phó với tình hình thực tiễn, mục tiêu chung của hệ thống NHTM là tối đa hóa lợi nhuận và duy trì trạng thái thanh khoản lành mạnh nhằm tạo được độ bảo vệ vững chắc cho ngân hàng và nâng cao công tác kiểm soát RRTK. Trong thực tế, ngân hàng liên tục cải thiện công tác quản lý các loại rủi ro nói chung và đặc biệt chú trọng đến RRTK nói riêng vì loại RRTK được xem rủi ro nguy hiểm nhất (Arif và Anees 2012).
Ngoài ra, các NH cần kiểm soát tình hình của RRTK vì khi tỷ này càng cao cho thấy NH không có khả năng thanh toán để chi trả những yêu cầu bất ngờ từ phía KH nhưng càng thấp sẽ gây khó khăn khi tổ chức muốn tăng trưởng lợi nhuận.