chương 1 sẽ là nền tảng để tác giả triển khai nội dung ở chương 2. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương 2, tác giả sẽ triển khai cơ sở khái niệm, lý luận liên quan đến hiệu quả tài chính và cấu trúc sở hữu, đưa ra các cơ sở đo lường mức độ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ khảo lược các đề tài nghiên cứu đi trước để nắm rõ hơn về các bằng chứng thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Cơ sở lý luận về cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 2.
Cấu trúc sở hữu 2. Khái niệm Cấu trúc sở hữu hay cấu trúc cổ đông (Ownership structure) được hiểu là cơ cấu vốn góp trong một doanh nghiệp, là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ nắm giữ bởi các chủ sở hữu. Cấu trúc quyền sở hữu đề cập đến tỷ lệ sở hữu của các bên khác nhau trong vốn chủ sở hữu. Theo Zheka (2005) nghiên cứu về CTSH cho rằng cơ cấu sở hữu được xác định thông qua việc phân chia tỷ lệ sở hữu, quyền biểu quyết, vốn góp và đặc tính của các thành viên cổ đông.
Manna và cộng sự (2016) nhận định rằng cơ cấu sở hữu là sự phân loại vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các thành viên cổ đông có liên quan. Mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều có vốn điều lệ ban đầu, sau đó tùy vào những kế hoạch, chiến lược riêng mà doanh nghiệp sẽ thực hiện huy động để mở rộng phạm vi và phát triển, việc huy động sẽ thu hút nhiều chủ sở hữu tham gia. Từ đó, vốn cổ phần sẽ được phân chia cho các cổ đông khác nhau, hình thành tỷ lệ phần trăm cổ phần trong tổng số cổ phần của doanh nghiệp. 9 Bên cạnh những khái niệm về cấu trúc sở hữu đã đề cập ở trên, ta có thể tìm hiểu nền tảng lý luận của CTSH thông qua một số lý thuyết nền có mối liên hệ đến vấn đề nghiên cứu như lý thuyết đại diện (Agency Theory), lý thuyết quyền sở hữu (Property rights theory).
Lý thuyết quyền sở hữu (Property rights theory) Theo Segal và Whinston (2013) cho rằng một quốc gia có hiệu quả kinh tế cao và phân chia nguồn lực cân đối rất cần đến quyền sở hữu. Mọi doanh nghiệp đều phải đương đầu với hai khía cạnh cơ bản. Đầu tiên là việc tạo ra các động cơ khuyến khích hành vi hiệu quả giữa các thành viên. Thứ hai là sự phân bổ hiệu quả giữa các thành viên các nguồn lực sẵn có và do tổ chức tạo ra.
Các khía cạnh này có liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vì quy tắc phân bổ nguồn lực có ảnh hưởng đến động cơ cá nhân. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều phân chia rạch ròi giữa quyền sở hữu và quyền đại diện với mục đích phát huy tối đa những thế mạnh và chuyên môn của họ (Fama và cộng sự, 1983). Tuy nhiên, sự phân chia cụ thể giữa quyền sở hữu và quyền đại diện đã vô tình gây ra vấn đề về “mối quan hệ đại diện”. Tóm lại, lý thuyết về quyền sở hữu đề cao vai trò của quyền sở hữu như một yếu tố trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, hiệu quả tài chính của một ngân hàng.
Từ những nghiên cứu cúa các nhà khoa học trên đã góp phần làm rõ hơn về lý thuyết quyền sở hữu và những vấn đề mà doanh nghiệp đang đối mặt. Từ đó, góp phần bổ trợ về việc hình thành và phát triển lý thuyết đại diện. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Những ý tưởng ban đầu về đại diện được hình thành trong nghiên cứu về thuyết quản lý doanh nghiệp của Means và cộng sự (1932). Nghiên cứu về lý thuyết đại diện được chính thức xuất bản năm 1972 bởi hai tác giả là Fama, Miller.
Sau đó, các vấn đề về lý thuyết đại diện tiếp tục được kế thừa và cụ thể hóa thông qua công trình khoa học của Jensen & Meckling (1976) 10 Theo Fama và Miller (1972) cho rằng lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện. Trong mô hình tổ chức kinh doanh sơ cấp, chủ sở hữu sẽ đảm nhiệm vai trò của người đại diện. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ngày càng nâng cao và tăng trưởng không ngừng, tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty. Việc tăng trưởng kinh tế đòi hỏi các tổ chức kinh doanh buộc phải mở rộng quy mô để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Một doanh nghiệp nhỏ sẽ có nhiều hạn chế về mặt tài chính, vì thế nếu muốn phát triển quy mô sẽ cần đến nhiều nguồn tài trợ. Việc có nhiều nguồn tài trợ tham gia sẽ làm chi phối vốn chủ sở hữu, người đại diện sẽ không còn là chủ sỡ hữu duy nhất. Lúc này, người đại diện sẽ thay mặt các cổ đông (chủ sở hữu mới) thực hiện các hoạt động tài chính giúp tăng lợi nhuận công ty. Theo công trình khoa học của Jensen và Meckling (1976) nhận xét rằng những khó khăn, mâu thuẫn liên quan đến đại diện đa phần xuất phát từ sự mất cân bằng thông tin giữa các thành viên cổ đông và người đại diện.
Các cổ đông sẽ hướng tới việc tối đa hóa lợi ích bằng cách tăng giá trị công ty trong khi đó lợi ích của nhà đại diện gắn liền với mức thu nhập nhận được. Người đại diện có thể cảm nhận được lợi ích họ nhận được khá thấp so với công sức và năng lực họ mang lại cho doanh nghiệp, hơn thế họ có khả năng thất nghiệp nếu không đáp ứng đủ điều kiện của các cổ đông đưa ra hoặc sự bất đông trong ý kiến với các cổ đông. Những lý do đó sẽ khiến người đại diễn dễ dàng tạo ra động cơ thu lợi cá nhân, gây bất lợi đến quyền lợi của các thành viên cổ đông. Thế nên, để “gỡ rối” những xung đột về quyền và lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện, lý thuyết đại diện gợi ý rằng cần có những cách thức tác động nhằm hạn chế xung đột về quyền lợi giữa hai nhóm chủ thể này.
Ta có thể hiểu được ý nghĩa và bản chất của lý thuyết đại diện, từ đó chủ sở hữu sẽ có định hướng để điều hành hoạt động doanh nghiệp. Bên cạnh đó, lý thuyết đại diện còn đề cập về loại hình sở hữu, thành phần sở hữu nước ngoài cao sẽ kiểm soát và vận hành doanh nghiệp với mức chi phí đại diện thấp (Xu và cộng sự, 2005) và ngược lại, nếu thành phần SHNN cao sẽ làm tăng chi phí đại diện, giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Mak và cộng sự, 2001). Từ những phân tích có thể 11 thấy có mối liên hệ mạnh mẽ giữa CTSH và chi phí đại diện, CTSH có tác động đến chi phí đại diện nói riêng và hiệu quả tài chính nói chung. Các hình thức sở hữu của NHTM Căn cứ vào các loại hình sở hữu, NHTM có thể được phân chia thành những hình thức sau: Ngân hàng thương mại thuộc quyền sở hữu Nhà nước: theo điều 6 khoản 2 trong bộ luật các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại thuộc SHNN là loại hình được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước.
Các ngân hàng này được thành lập để đáp ứng các mục tiêu của chính phủ. Các NHTM quốc doanh được Nhà nước hỗ trợ về mặt tài chính vì thế thường được bảo đảm sự ổn định, an toàn và rất ít khi bị phá sản. Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu tư nhân: là ngân hàng có thể được thành lập bằng vốn cá nhân. Quy mô của NHTM tư nhân thường nhỏ, phạm vi hoạt động thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương.
Ngân hàng thương mại cố phần: là ngân hàng thương mại được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu và được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Theo điều lệ của NHNNVN, các pháp nhân chỉ được phép sở hữu một số cổ phần theo quy định. Các cổ đông nắm giữ cổ phần có quyền hạn tham gia biểu quyết các triển khai của ngân hàng và đồng thời cũng phải chịu tổn thất khi có thiệt hại. Ngân hàng liên doanh: được hình thành bởi sự góp vốn liên doanh giữa ngân hàng thương mại trong nước và ngân hàng thương mại nước ngoài.
Tất cả mọi hành động của hình thức NHTM này phải được tuân thủ theo pháp luật Việt Nam. Dựa vào các khái niệm trên ta hiểu được cấu trúc sở hữu của NHTM là các thành phần sở hữu và tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong một NHTM. Trong bài luận tác giả sẽ tìm hiểu về CTSH theo khía cạnh các loại hình sở hữu liên quan đến thuộc tính của cổ đông. Do một số hạn chế về mặt dữ liệu và thời gian nên tác giả sẽ tập 12 trung phân tích tác động của hai nhóm sở hữu chính là sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài đến hiệu quả tài chính của NHTMVN.
Hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Khái niệm về HQTC thường được dùng phổ biến trong các nghiên cứu kinh tế cũng như quản trị tài chính doanh nghiệp và cá nhân. Khái niệm này được kết hợp giữa hai khái niệm “hiệu quả” và “tài chính” để làm rõ HQTC của các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực NHTM. Theo Richard và cộng sự (2009) cho rằng có nhiều nghiên cứu xoay quanh đến đến hiệu quả tài chính tuy nhiên vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào cho hiệu quả tài chính.
Theo nghiên cứu của Myers (1984) cho rằng bản chất của HQTC là hiệu quả, năng suất kinh doanh của một doanh nghiệp. Trong đó, hiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng sử dụng nguồn lực, tài chính có sẵn của doanh nghiệp để đạt lợi nhuận tốt nhất trong hoạtvđộng kinh doanh với mức chi phí tối thiểu (Phạm Thị Thanh Hương và Nguyễn Minh Ngọc, 2017). Hiệu quả tài chính được hiểu là là khả năng sử dụng và quản lý tài nguyên tài chính một cách hiệu quả nhằm đạt được thành quả tối ưu trong việc đáp ứng mục tiêu kinh doanh và tài chính. Theo nghiên cứu của Farrell (1957) cho rằng HQTC với mục đích đánh giá khả năng một đơn vị trong việc tối đa hóa lợi nhuận với chi phí đầu vào cho trước.
Hiệu quả tài chính thể hiện mức độ hiệu quả và năng suất của các hoạt động tài chính trong một tổ chức hoặc doanh nghiệp.