chương 1 của Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng ban hành theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 thì loại vay bao gồm: Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn tối đa là 1 năm. Đối với khoản vay này thường được dùng để bổ sung sự thiếu hụt về các nhu cầu về vốn lưu động và nhu cầu chi tiêu tiêu dùng cá nhân. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 1 năm và tối đa 5 năm, được sử dụng vào đầu tư loại tài sản cố định, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và có thời gian thu hồi vốn nhanh. Bênh cạnh việc đầu tư vào các tài sản cố định, đây còn được xem là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu cá nhân như: mua sắm các tài sản có giá trị lớn, đầu tư bất động sản, xây dựng mô hình kinh doanh tư nhân,.
Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Được sử dụng với mục đích đáp ứng các nhu cầu đầu tư vào các hoạt động SXKD, các dự án với quy mô lớn và thời gian đầu tư lâu dài như: xây dựng nhà ở, mua sắm các phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng,. Căn cứ vào phương thức cho vay Cho vay không có bảo đảm: là hình thức cho vay dựa điểm tín dụng tốt của khách hàng mà không cần tài sản cầm cố. Cho vay có đảm bảo: là cho vay dựa trên các biện pháp bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp, hoặc có sự bão lãnh từ bên thứ ba.
Hình thức cho vay này thường 12 được áp dụng cho những khách hàng mới, mức độ giao dịch không thường xuyên và ít quan hệ với ngân hàng. Tổng quan về Chất lượng hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân 1. Khái niệm Chất lượng Hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Đình Đức (2020), chất lượng tín dụng KHCN là “sự đáp ứng một cách tốt nhất để yêu cầu của khách hàng ( người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận cho ngân hàng phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội” Chất lượng hoạt động cho vay KHCN là chỉ tiêu để đánh giá kết quả của NHTM trong vai trò quản lý và phân bổ bổ nguồn vốn của NHTM, thể hiện khả năng quản lý của ngân hàng nhằm đảm bảo sự sinh lời, an toàn trong hoạt động và đem tới sự hài lòng đến khách hàng thông qua dịch vụ tín dụng KHCN ( Vương Thị Minh Tâm, 2015). Theo đó, dịch vụ hoạt động cho vay KHCN được xem là tốt khi nó đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, góp phần cho sự phát triển kinh tế.
Vì vậy, hoạt động cho vay KHCN được cung ứng tốt cần xét đến những khía cạnh khác nhau: Chất lượng cho vay theo khía cạnh ngân hàng: Chất lượng cho vay tốt khi nó đáp ứng được những nhu cầu về vốn của khách hàng, đem lại lợi nhuận và phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Vì vậy, chất lượng được cho thấy ở sự tăng trưởng dư nợ cho vay là lợi nhuận cho vay, doanh số thu nợ lớn, tỉ lệ nợ đáo hạn được tuân thủ đúng quy định và cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Chất lượng cho vay theo khía cạnh khách hàng: Chất lượng cho vay phải đáp ứng được nhu cầu cần vốn của khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc và quy định, phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NHTM, góp phần làm tăng trưởng tín dụng và ổn định tài chính. Chất lượng cho vay xét theo khía cạnh kinh tế - xã hội: Chất lượng hoạt động cho vay tín dụng đóng một vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế địa phương.
Giúp người dân có việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp do các KHCN mở rộng hoạt động 13 kinh doanh. Không những thế hoạt động tín dụng cho vay cá nhân còn giúp nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống. Các khoản vay tiêu dùng giúp những cá nhân có khả năng tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ. Việc xem xét chất lượng cho vay cá nhân từ góc độ kinh tế - xã hội không chỉ giúp ngân hàng thực hiện trách nhiệm xã hội của mình mà còn góp phần vào sự thịnh vượng của cộng đồng và quốc gia.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Để đánh giá chất lượng hoạt động cho vay KHCN, ngân hàng sử dụng các chỉ tiêu cụ thể theo dõi hiệu quả, quản lý rủi ro và đảm bảo rằng hoạt động cho vay mang lại lợi ích cả về kinh tế và xã hội. Cụ thể: ➢ Cơ cấu dư nợ cho vay: là sự phân chia các khoản vay của ngân hàng theo các tiêu chí khác nhau nhằm đánh giá và quản lý rủi ro một cách có hiệu quả. Việc phân tích cơ cấu dư nợ cho vay giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về sự phân bổ vốn vay, từ đó có thể điều chỉnh chiến lược cho vay và quản lý rủi ro một cách hợp lý. ➢ Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu Theo Khoản 1 Điều 10 Chương II Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nợ của NHTM được chia thành 5 nhóm nợ sau: a) Nhóm nợ 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: i) Khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
ii) Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn. b) Nhóm nợ 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: i) KHoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày. ii) Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. c) Nhóm nợ 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: i) Khoản nợ gia hạn nở lần đầu.
ii) Khoản nợ được gia hạn nợ lần đầu. 14 iii) Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. iv) Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: - Khoản nợ vi phạm khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều Luật Các tổ chức tín dụng. - Khoản nợ vi phạm khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng.
- Khoản nợ vi phạm khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng. v) Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra. d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: i) Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. ii) Khoản nợ có cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
iv) Khoản nợ tại thời điểm iv) nhóm 3 chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. v) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn đến 60 ngày. e) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: i) Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cầu lại lần đầu.
iii) Khoản nợ được cơ cấu lại lần thứ hai và quá hạn thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. iv) Khoản nợ được cơ cấu lại lần thứ hai và quá hạn thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. v) Khoản nợ tại điểm iv) nhóm 3 chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. 15 vi) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn trên 60 ngày.
vii) Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng Nhà nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản. ⚫ Tỷ lệ nợ quá hạn Tổng dư nợ quá hạn KHCN Tỷ lệ nợ quá hạn KHCN = × 100% Tổng dư nợ cho vay KHCN Căn cứ theo Khoản 5 Điều 2 Chương I Quyết định số 22/VBHN-NHNN về Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Nợ quá hạn thuộc nhóm 2, 3, 4 và 5 theo quy định về phân loại nợ. ⚫ Tỷ lệ nợ xấu Tổng dư nợ xấu KHCN Tỷ lệ nợ xấu KHCN = × 100% Tổng dư nợ cho vay KHCN Căn cứ theo Khoản 6 Điều 2 Chương I Quyết định số 22/VBHN-NHNN thì “nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuốc các nhóm 3, 4 và 5” và có số ngày quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên.
Tỷ lệ nợ xấu là chỉ số quan trọng giúp các ngân hàng đánh giá được chất lượng tín dụng, đo lường mức độ rủi ro và xếp hạng tín dụng. Nếu tỷ lệ này cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng yếu kém, khả năng thu hồi nợ khó làm ảnh hưởng lớn để khả năng thanh toán của ngân hàng. ⚫ Vòng vay vốn tín dụng Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = × 100% Dư nợ cho vay bình quần Vòng quay vốn tín dụng là một chỉ số tài chính quan trọng, phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng và quản lý vốn tín dụng của một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ số này cho biết số lần vốn tín dụng được luân chuyển trong kỳ kế toán, thường là một năm, từ việc sử dụng vốn tín dụng để mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ, cho đến khi thu hồi được số tiền tương ứng từ doanh 16 thu bán hàng.Tỷ số này càng cao thì doanh nghiệp càng sử dụng vốn tín dụng hiệu quả, tức là doanh nghiệp có khả năng quay vòng vốn nhanh chóng để tạo ra doanh thu.