CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHẨU VỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mai và các đặc trưng 1. Ngân hàng thương mại và khái niệm rủi ro trong hệ thống ngân hàng Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính được hoạt động theo nguyên tắc cổ phần hóa và vì mục đích lợi nhuận. Quá trình hình thành và gây dựng hệ thống ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần, đảm nhiệm việc kinh doanh tiền tệ.
Hơn nữa, NHTM cung cấp rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ về tài chính đa dạng như tín dụng, tiết kiệm, cho vay, bảo lãnh và các dịch vụ thanh toán, tài chính khác. Để xác định các đặc trưng của NHTM, có thể dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, hoặc kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Ngân hàng Trung ương Thuỵ điển – Bank of Sweden thành lập vào năm 1669 được coi là Ngân hàng Trung ương đầu tiên trên thế giới, tiếp đến là Ngân hàng Trung ương Anh – Bank of England, 1694, Ngân hàng Trung ương Mỹ – US Federal Reserve, 1912, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại. Khái niệm Ngân hàng thương mại của Luật Ngân hàng (Đan Mạch, 1930) căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động: “Những Ngân hàng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm,…”.
Ở Việt Nam, NHTM là ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác 4 c của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận (Thông tư 20/VBHN- NHNN ngày 12 tháng 12 năm 2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Như vậy, NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại được biểu hiện qua chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch lãi suất, chuyển đổi kỳ hạn nguồn vốn – tài sản, chuyển đổi rủi ro nguồn vốn – tài sản, và tích tụ và tập trung tư bản. Việt Nam có thị trường tài chính dựa trên ngân hàng, vốn bị chi phối bởi các ngân hàng.
NHTM Việt Nam đang dần trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất trong hệ thống tài chính. Tuy nhiên, một số điểm yếu của các NHTM như nợ xấu cao, thanh khoản không ổn định, sở hữu chéo, quản trị ngân hàng kém đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trải qua những thay đổi đáng kể kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Trong hai mươi năm qua, hệ thống tài chính Việt Nam và đặc biệt là hệ thống ngân hàng đã chuyển từ một hệ thống độc quyền sang một hệ thống đa dạng cho phép tất cả những người tham gia cạnh tranh công bằng và hiệu quả.
Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã dần phát triển với số lượng tổ chức ngân hàng, quy mô của ngành ngân hàng, lượng tín dụng và dịch vụ ngân hàng tăng lên. Mặc dù đã phát triển trong những năm gần đây, ngành ngân hàng Việt Nam không tránh khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008. Điều này đặt ra thách thức đối với ngành ngân hàng tại Việt Nam về hiệu quả hoạt động. Một trong những vấn đề chính của ngành ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các NHTM là làm thế nào để nâng cao hiệu quả 5 c hoạt động và tìm hiểu về tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của ngân hàng.
Ở hầu hết các quốc gia, NHTM là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất. Nó có thể thu hút dòng tài chính, cung cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính khác nhau rất linh hoạt. Những hoạt động này có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế quốc gia. Do đó, các NHTM nên được đánh giá và phân tích bằng các kỹ thuật hiện đại và chính xác để xếp hạng trong hệ thống ngân hàng và cải thiện hiệu suất của họ.
Việt Nam vẫn đang trên con đường hội nhập quốc tế, điều này mang lại cả cơ hội và thách thức cho nền kinh tế, đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Hội nhập kinh tế mang lại một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho các NHTM. Hơn nữa, nó mang lại cơ hội trao đổi và hợp tác quốc tế trong hoạch định chính sách tài chính và tiền tệ, quản lý ngoại hối, kiểm tra và giám sát rủi ro. Do đó, vị thế và uy tín của NHTM Việt Nam trong dịch vụ ngân hàng giao dịch toàn cầu sẽ được nâng cao.
Bên cạnh những cơ hội này, hệ thống ngân hàng còn phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các ngân hàng quốc tế về giá cả, dịch vụ, phân phối. Trong khi đó, NHTM Việt Nam rất khó có thể khẳng định vị thế của mình trên thị trường quốc tế vì khả năng cạnh tranh còn thua kém. Không có bất kỳ ngân hàng nào có thể đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu của khách hàng. Nếu một ngân hàng có lợi thế về mặt này, nó có thể sẽ gặp khó khăn và trở ngại ở các mặt khác.
Do đó, trong thị trường mở với sự tham gia của nhiều ngân hàng trong nước và quốc tế hơn, các NHTM Việt Nam phải phát huy thế mạnh và cải thiện điểm yếu của mình để duy trì và tăng thị phần cũng như lợi nhuận. Nó tạo ra một yêu cầu đánh giá kĩ lưỡng lại sự thành công và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương 6 c mại Việt Nam bằng các kỹ thuật chính xác và hiện đại nhất để đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau. Như vậy, bên cạnh việc xem xét lợi nhuận của các ngân hàng, chúng ta cũng cần đánh giá mức độ rủi ro mà các ngân hàng gặp phải. Đo lường lợi nhuận ngân hàng là quan trọng không chỉ đối với chính ngân hàng, mà còn đối với các cơ quan giám sát để đảm bảo sự ổn định tài chính.
Rủi ro tín dụng mà các ngân hàng của Việt Nam phải đương đầu lại tạo ra phần lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng. Vì vậy, quản lý hiệu quả danh mục cho vay là được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM. Nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại đang thu hút rất nhiều sự chú ý của không chỉ các học giả mà cả các cổ đông, nhà quản lý và cơ quan quản lý. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại, ví dụ, sử dụng các phương pháp phân tích định lượng hoặc chọn kết quả đánh giá cho từng khía cạnh như lợi nhuận, mức độ rủi ro, khả năng quản lý, khả năng cạnh tranh.
Tuy nhiên, hiện giờ chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của Hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Tối đa hóa lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro là mục tiêu quan trọng cần phấn đấu đạt được của tất cả các ngân hàng thương mại. Đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng thương mại không chỉ là các ngân hàng lập kế hoạch làm thế nào để tạo ra lợi nhuận ít hay nhiều so với các ngân hàng khác? Một ngân hàng tạo thu được lợi nhuận cao hơn các ngân hàng khác sẽ không có nghĩa là tốt nếu ngân hàng đó chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn thay vì cải thiện chất lượng tài sản hoặc quản lý điều hành chi phí. 7 c Rủi ro tín dụng là một nội hàm quan trọng của rủi ro tài chính.
Luồng vốn tín dụng của các ngân hàng luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Việc kiểm soát hiệu quả luồng vốn tín dụng, giảm rủi ro tín dụng sẽ tăng cường sử dụng hiệu quả vốn và làm tăng luồng vốn, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do đó, rủi ro tín dụng là một trong những mối quan tâm và lợi ích hàng đầu của các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách. Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay không đáp ứng nghĩa vụ theo hợp đồng để trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Cùng với rủi ro lãi suất, đó là rủi ro chính trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Một NHTM nắm giữ tài sản hữu ích, rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng không trả nợ kịp thời - điều đó có nghĩa là khách hàng không thể trả gốc và lãi theo hợp đồng đã ký. Rủi ro tín dụng có nghĩa là bất kỳ thay đổi có thể xảy ra theo chiều hướng xấu nào của thu nhập ròng và giá trị thị trường của vốn phát sinh khi khách hàng không có khả năng tài chính để thanh toán được hoặc thanh toán trễ. Rủi ro tín dụng được xác định là người vay không trả lãi hoặc trả nợ gốc đúng với thời gian quy định trong hợp đồng tín dụng.
Đây là bản chất vốn có của hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng là sự trả nợ muộn màng hoặc trong trường hợp xấu hơn, không có điều kiện tài chính đầy đủ để thanh toán. Điều này gây ra vấn đề cho dòng tiền, ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một khoản lỗ có khả năng xảy ra khi ngân hàng thương mại cung cấp khoản vay tín dụng cho khách hàng hoặc khả năng dự định dòng thu nhập từ các khoản vay của các ngân hàng không thể áp dụng và thực hiện đầy đủ cả số lượng và thời gian cần thiết.
Rủi ro tín dụng còn được xác định là tổn thất tài chính của các ngân hàng do một nhóm khách hàng không trả được nợ cho các ngân hàng.