CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG 1. Cơ cấu vốn của NHTM 1. Khái niệm Cơ cấu vốn (Capital Structure) là một khái niệm quen thuộc dùng để chỉ tỷ trọng của các loại vốn của một công ty, doanh nghiệp bất kì. Hiểu đơn giản, cơ cấu vốn cho thấy được tỷ trọng của các loại vốn khác nhau trong tổng nguồn vốn sử dụng của doanh nghiệp.
Tỷ trọng này có thể thay đổi tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược kinh doanh, và điều kiện thị trường của mỗi doanh nghiệp. Theo lý luận chung, nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các khoản tiền gửi huy động từ các khách hàng cá nhân, tổ chức kinh tế và các tổ chức khác, vay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và của các tổ chức tài chính khác, phần vốn của các người góp vốn là các cổ đông ngân hàng. Ngân hàng sử dụng vốn để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Có thể nói, vốn của NHTM được xem là tấm đệm tài chính, giúp giảm thiểu các rủi ro cũng như các khoản lỗ có thể phát sinh trong tương lai.
Các NHTM cho vay, chấp nhận tiền gửi và cung cấp các sản phẩm tài chính cơ bản như tài khoản tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi cho cá nhân và doanh nghiệp. Họ kiếm tiền chủ yếu bằng cách cung cấp các loại khoản vay khác nhau cho khách hàng và tính lãi. Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn (2018) chứng minh rằng tiền của ngân hàng đến từ tiền gửi của khách hàng trong tài khoản tiết kiệm, tài khoản séc, tài khoản thị trường tiền tệ và chứng chỉ tiền gửi. Người gửi tiền kiếm được lãi suất từ tiền của họ trong tài khoản ngân hàng.
Tuy nhiên, lãi suất trả cho họ thấp hơn lãi suất tính cho người vay. Một số khoản vay được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại bao gồm cho vay xe cơ giới, thế chấp, cho vay kinh doanh và cho vay cá nhân. Với những cách tiếp cận khác nhau, cơ cấu vốn cũng sẽ có cách định nghĩa, khái niệm khác nhau. Theo cuốn sách "Fundamentals of Corporate Finance" của Stephen, Randolph và Bradford (2003): “Cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, hay còn gọi là đòn bẩy tài chính, là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu 9 theo một tỉ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh”.
Với NHTM, cơ cấu vốn là một tập hợp các loại tài sản hình thành từ hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng, được sắp xếp theo những tiêu thức khác nhau và cấu thành theo những tỷ trọng nhất định. Phân loại Trong vòng ba thập kỷ kể từ cuộc suy thoái kinh tế năm 1930, quản lý tài sản là mối quan tâm lớn của hầu hết các NHTM trên thế giới. “Cho đến những năm 1960, họ có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến phần thứ hai và vốn tập trung ở ba nhóm phổ biến: tiền gửi, vốn vay và vốn tự có của ngân hàng" theo Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thành Nhân (2018). Theo nguồn hình thành Tiền gửi: Có ba loại tiền gửi tiết kiệm phổ biến ở Việt Nam: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi không kỳ hạn là tiền mặt được gửi vào tài khoản ngân hàng có thể rút bất cứ lúc nào. Khách hàng thường sử dụng các khoản tiền này để chỉ tiêu cho các chỉ tiêu hàng ngày. Theo Smiriti (2020), ông tuyên bố rằng mục đích chính của các khoản tiền gửi này là để hỗ trợ khách hàng đảm bảo an toàn tài sản và thanh toán qua ngân hàng. Về tiền gửi không kỳ hạn, chúng thường được duy trì bởi các doanh nhân để thực hiện giao dịch và có thể được rút ra bằng séc.
“Từ khía cạnh tiền gửi có kỳ hạn, đây là những tài khoản ngân hàng chịu lãi suất có ngày đáo hạn được ấn định trước" (Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn, 2018). Người dân gửi tiền có kỳ hạn cho ngân hàng để hưởng lãi suất đã nêu, ngân hàng đã chủ động lên kế hoạch chi tiêu vốn. Tỷ lệ cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cỡ sở xem xét sự an toàn của ngân hàng cũng như cung cầu vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, các NHTM vẫn cho phép người gửi tiền rút tiền trước hạn nhằm mục tiêu thu hút họ và tạo thanh khoản cho các khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Loại cuối cùng là tiền gửi tiết kiệm, trong đó người dân tiết kiệm tiền trong trung hạn hoặc dài hạn cho mục đích xây dựng nhà ở. Bên cạnh đó, họ cũng được các ngân hàng cho vay để cung cấp thêm vốn cho mục đích này. Tô Kim Ngọc và cộng sự (2018) khẳng định tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của các NHTM, đây cũng là những khoản mục chính 10 để các ngân hàng điều hành doanh nghiệp. Do đó, NHTM còn được gọi là ngân hàng tiền gửi.
Vốn vay: Các NHTM nhận tiền để sử dụng tạm thời từ NHNN, các ngân hàng khác, trung gian tài chính hoặc người dân. Thứ nhất, các ngân hàng chủ động phát hành chứng từ có giá để huy động vốn cho những mục đích nhất định. Ví dụ, họ qung cấp trái phiếu để vay vốn khắc phục hậu quả lũ lụt hoặc đầu tư vào một dự án. Việc huy động vốn này được áp dụng theo hai phương thức: Phát hành bằng mệnh giá và chiết khẩu.
Mặt khác, theo Tô Kim Ngọc và cộng sự (2018), các NHTM có quyền sử dụng tiền tạm thời từ NHNN trong trường hợp họ cần bổ sung vốn khả dụng. Họ được cấp tín dụng chủ yếu dưới hai hình thức: vay tái cấp vốn và vay thế chấp. Các khoản vay này liên quan đến việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN. Nguồn vay thứ ba là từ các ngân hàng và tổ chức tài chính khác.
Mục đích của việc cho vay này là nhằm đảm bảo yêu cầu về vốn khả dụng trong ngắn hạn. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có tình trạng cho vay nhiều ngày hoặc nhu cầu nghĩa vụ tài chính nhiều gây thiếu hụt dự trữ tại NHNN. Trong khi đó, một số ngân hàng khác đang trong tình trạng dư thừa dự trữ. Hành vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng nhằm điều hòa nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn luân chuyển liên tục trong hoạt động của ngân hàng.
Hơn nữa, các ngân hàng cũng có thể phát hành trái phiếu để vay tiền từ các tổ chức tài chính quốc tế. Huy động vốn từ nước ngoài có thể hỗ trợ các ngân hàng tiếp cận các nguồn vốn nước ngoài rộng hơn và chi phí thấp hơn. Vốn chủ sở hữu: Mục cuối cùng trong hoạt động tạo vốn là vốn chủ sở hữu của các ngân hàng. Ở Việt Nam, nó bao gồm hai bộ phận: vốn điều lệ và quỹ dự trữ.
Tô Kim Ngọc và cộng sự (2018) cho biết: “Vốn điều lệ là tất cả tài sản bắt buộc phải có thuộc sở hữu của các ngân hàng thương mại để bắt đầu hoạt động". Tùy theo hình thức nhiệm kỳ, nguồn vốn này được hình thành từ các nguồn khác nhau: đối với NHTM Nhà nước thì nguồn do Nhà nước cung cấp; đối với các ngân hàng cổ phần thi phát hành cổ phiếu là cách huy động tiền của họ. Mặt khác, các quỹ dự phòng được trích vào lợi nhuận ròng hàng năm để bổ sung vào VCSH thực hiện chức năng bổ sung vốn pháp định và trích lập dự phòng để bù đắp rủi ro. Thứ hai, các tác giả này chỉ ra rằng vốn bao gồm lợi nhuận không chia và các quỹ chưa sử dụng khác, do thực tế số tiền này phải được sử dụng cho một số mục đích nhất định nhưng các ngân 11 hàng chưa chỉ tiêu.
Nhìn chung, vốn của các NHTM ổn định, và nó thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn (khoảng dưới 10%). Tuy nhiên, nó chiếm một vị trí quan trọng quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng và là cơ sở để họ tiến hành kinh doanh, huy động vốn và cung cấp các khoản vay. Nó được ví như một tấm đệm để chống đỡ sự mất giá tài sản của các ngân hàng, có thể đẩy họ vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Theo mục đích sử dụng: Hoạt động ngân quỹ: Hoạt động này phản ánh việc chỉ tiêu vốn của các NHTM.
Chức năng của nó là quản lý khả năng sử dụng vốn thặng dư, duy trì tỉnh thanh khoản, giảm chi phí tổng thể và giảm bớt rủi ro tài chính, hoạt động. Ngoài ra, giáo trình của Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn (2018) cũng đề cập rằng các ngân hàng có ba bộ phận riêng biệt phục vụ cho hoạt động ngân quỹ: tiền khả dụng tại quỹ, tiền dự trữ của các ngân hàng khác và NHNN. Các bộ phận này tạo thành một quỹ dự trữ của NHTM đảm bảo khả năng thanh toán và các nghĩa vụ tài chính khác cho ngân hàng mặc dù không có lợi nhuận. Do đó, hạn chế rủi ro thanh khoản, nâng cao uy tín của ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời của các NHTM.
Hoạt động cho vay: Nghiệp vụ cho vay được hiểu là hoạt động của ngân hàng cung cấp vốn trực tiếp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của khách hàng trên cơ sở đáp ứng các điều kiện cho vay của ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ này, NHTM kiểm soát trực tiếp, thường xuyên mục đích sử dụng vốn vay. Cho vay là nghiệp vụ sinh lời chính của các ngân hàng và được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau: chiết khấu thương phiếu, tín dụng ứng trước, thấu chi, bao thanh toán, cho thuê, tín dụng chữ ký và tín dụng tiêu dùng. Hoạt động đầu tư: Đầu tư chứng khoán là hình thức phổ biến trong hoạt động sử dụng vốn của các NHTM.
Trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp đều là những lựa chọn phong phú để đầu tư của các ngân hàng nhằm thu lợi nhuận và mang lại thu nhập cho các tổ chức này. Tô Kim Ngọc & Nguyễn Thành Nhàn (2018) cũng cho biết: “Hoạt động này cũng nâng cao khả năng thanh toán của ngân hàng và bảo toàn ngân sách." Đồng thời, nó đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của ngân hàng 12 nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.